Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non

doc 15 trang vietcuong 01/04/2026 120
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
 CHO TRẺ 3- 4 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON
 Tên tôi là: 
 Sinh ngày: 
 Đơn vị công tác: Trường Mầm non 
 I. TÊN BIỆN PHÁP VÀ LĨNH VỰC ÁP DỤNG
 1. Tên biện pháp
 Một số biện pháp “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3- 4 tuổi trong 
trường mầm non”.
 2. Lĩnh vực áp dụng
 Biện pháp “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3- 4 tuổi trong trường 
mầm non” áp dụng cho tất cả các lĩnh vực.
 II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
 1. Cơ sở lý luận
 - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo có quan hệ 
mật thiết với nhau bao quanh con người.
 - Môi trường có tầm quan trọng đối với đời sống con người và sự phát triển 
kinh tế, văn hóa của đất nước.
 - Bảo vệ môi trường là giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo 
cân bằng sinh thái, khắc phục hậu quả mà con người hay thiên nhiên gây ra cho 
môi trường.
 - Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là quá trình giáo dục có 
mục đích nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, trẻ có thái 
độ hành vi có văn hóa đối với môi trường xung quanh trẻ.
 - Môi trường trong trường mầm non là một môi trường trẻ không chỉ được 
học tập mà trẻ còn vui chơi, thỏa sức tìm tòi, khám phá mọi điều thú vị xung 
quanh trẻ. Vì vậy để trẻ có thể phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần thì việc 
đầu tiên cần quan tâm đó là môi trường nơi trẻ được tham gia học tập và vui chơi 
phải luôn trong sạch và an toàn, đảm bảo cả về thể chất và tinh thần. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 1 * Đặc điểm tình hình đơn vị 
 - Trường Mầm non Kim Hải nơi tôi công tác là 1 trong những trường điển 
hình về phát triển giáo dục toàn diện và đạt trường chuẩn Quốc gia mức độ 
1(tháng 4/2010).
 - Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đa số là giáo viên trẻ, khỏe nhiệt 
tình, năng động, yêu nghề, mến trẻ, luôn tích cực bồi dưỡng nâng cao trình độ 
chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ luôn 
đạt kết quả cao. 
 * Thuận lợi:
 - Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Phòng giáo dục và UBND xã, nhà 
trường nơi tôi đang công tác có cơ sở vật chất khang trang, đầy đủ.
 - Ban giám hiệu nhà trường luôn đi sâu, đi sát, tạo điều kiện thuận lợi cho 
giáo viên có đủ phương tiện để chăm sóc và giảng dạy.
 - Bản thân tôi luôn có tinh thần học hỏi, nhiệt tình trong giảng dạy, yêu 
nghề mến trẻ, luôn tìm tòi vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các 
hoạt động nhằm thu hút trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động.
 - Được học tập đúc rút kinh nghiệm qua thăm lớp dự giờ đồng nghiệp, đồng 
thời bản thân tôi là một Bí thư Chi đoàn tôi được tham giao các phòng trào bảo vệ 
môi trường do BCH của huyện Đoàn phối kết hợp với Đoàn xã .. tổ chức, trong 
quá trình cùng các đoàn viên tham gia bảo vệ môi trường ở Cồn Nổi và các khu 
vực ven đê biển, tham gia phong trào trồng cây xanh cải tạo môi trường ven biển, 
hay thanh niên với phong trào chống rác thải nhựa, qua những buổi tham gia tình 
nguyện tôi được học tập và rút ra được rất nhiều bài học để áp dụng vào quá trình 
chăm sóc và giáo dục trẻ hàng ngày. 
 - Tôi tích cực tìm hiểu về Internet,báo đài tivi, những tranh ảnh bài thơ hay 
nói về môi trường để lồng ghép vào trong những tiết dạy nhằm gây hứng thú cho 
trẻ khi được tìm hiểu về môi trường xung quanh trẻ.
 * Khó khăn
 Bên cạnh những thuận lợi, tôi thấy còn không ít mặt khó khăn trong việc 
nâng cao ý thức BVMT cho trẻ như: 
 - Cơ sở vật chất đã xuống cấp, chưa có đầy đủ các phòng chức năng. 
 2 - Diện tích sân chơi của trường còn chật hẹp, cây xanh rất ít nên chưa tạo 
được bóng mát.
 - Một số trẻ sinh về cuối năm nên có nhận thức chậm hơn những bạn sinh 
đầu năm. Một số trẻ ý thức bảo vệ môi trường chưa được cao như: Còn giẫm đạp 
lên vỏ sữa, vỏ bim bim, vất vỏ lung tung sau khi sử dụng ... và coi đó là trò chơi 
hấp dẫn. Trẻ chưa có ý thức bỏ rác vào thùng vào đúng nơi quy định, đi vệ sinh, 
rửa tay chưa biết khoá vòi nước lại.
 - Trình độ nhận thức của 1 số ít phụ huynh còn hạn chế nên việc giáo dục 
con cái chỉ là dạy trẻ học đếm, học chữ cái, còn việc giáo dục bảo vệ môi trường 
cho trẻ là việc làm không cần thiết và nhận thức bảo vệ môi trường không phải 
trách nhiệm của các bậc phụ huynh. Chính vì vậy 1 số trẻ thường mắc 1 số bệnh 
lây lan liên quan đến vệ sinh: bệnh chân tay miệng, bệnh tả, bệnh sốt xuất 
huyết ..
 Khi chưa áp dụng “Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3- 
4 tuổi trong trong trường mầm non” tôi thấy: 
 + Về phía trẻ: 20% trẻ có ý thức tham gia các hoạt động cộng đồng, biết giữ 
vệ sinh môi trường.
 + Về phía giáo viên: 70% giáo viên nắm chắc nội dung BVMT, vận dụng 
các phương pháp, phù hợp, để đưa vào giáo dục trẻ hằng ngày
 + Về phía phụ huynh: 30% phụ huynh nhận thấy trách nhiệm của mình đối 
với việc BVMT để giữ gìn sức khỏe cho trẻ và cộng đồng.
 Đây cũng chính là lý do để bản thân tôi chọn đề tài “Một số biện pháp 
giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3- 4 tuổi”, nhằm nâng cao ý thức bảo vệ 
môi trường ngay từ khi là bậc học mầm non.
 Chính vì những khó khăn trên tôi đã đưa ra 1 số biện pháp để giáo dục trẻ 
3-4 tuổi có ý thức bảo vệ môi trường:
 3. Các biện pháp thực hiện
 3.1. Biện pháp 1: Xây môi trường trong và ngoài lớp học an toàn thân 
thiện.
 3 - Trong quá trình công tác tôi thường xuyên tham mưu với Ban chi ủy, 
BGH, Hội cha mẹ học sinh của lớp bổ sung sửa chữa về cơ sở vật chất, đồ dùng 
đồ chơi.
 - Ngay từ đầu năm học tôi cùng với giáo viên ở lớp đã lập ra xây dựng môi 
trường lớp học thân thiện, tôi chuẩn bị nhiều đồ dùng, đồ chơi sáng tạo từ nguyên 
vật liệu thiên nhiên(lá khô, hột hạt..), đồ chơi các góc được sắp xếp gọn gàng, 
khoa học đẹp mắt.
 Ví dụ: Ở góc thiên nhiên tôi cùng trẻ sắp xếp góc thiên nhiên có các cây 
xanh, cây hoa, cây cảnh, chuẩn bị các dụng cụ chăm sóc cây .. Ngoài ra tôi sử 
dụng các nguyên vật liệu, phế thải như xăm lốp xe, can nhựa để tạo ra những 
bồn cây, cho trẻ trải nghiệm, khám phá và chăm sóc một cách thuận tiện. 
 (Hình ảnh 1: Góc thiên nhiên lớp- trang 11)
 - Việc tạo môi trường thiên nhiên cho trẻ hoạt động là điều cần thiết để đáp 
ứng nhu cầu “ Học mà chơi chơi mà học” qua quá trình học tập trẻ có tình yêu 
thiên nhiên, có ý thức chăm sóc bảo vệ môi trường.
 (Hình ảnh 2: Trẻ vui chơi- trang 11)
 - Tôi tổ chức cho trẻ lao động cùng cô giúp cô trực nhật, lau dọn góc chơi, 
lau lá cây, chăm sóc cây. 
 - Tôi hướng dẫn trẻ cách phân loại rác, rác phân hủy được ( giấy, lá cây,..)
 Rác tái chế được (lọ sữa, vỏ hộp kẹo, .) tôi rửa sạch phơi khô tận dụng để 
làm đồ chơi. 
 (Hình ảnh 3: Đồ chơi tái chế từ chai nhựa- trang 12 )
 - Vào ngày 27 hàng tháng giáo viên trong trường cùng nhau dọn dẹp, làm 
cỏ, khơi thông cống rãnh, trồng thêm cây xanh để khuôn viên trường luôn được 
trong sạch.
 - Công đoàn kết hợp với Đoàn thanh niên trong trường phát động phong 
trào thi đua làm đồ dùng đồ chơi bằng các nguyên vật liệu sẵn có và bằng các vật 
liệu phế thải.
  Kết quả đạt được: Trẻ hứng thú khi được tham giao lao động, cùng cô 
và các bạn, giúp trẻ có tính tự lập trong cuộc sống. Đồng thời giáo viên trong 
 4 trường có cơ hội thể hiện được nhiều ý tưởng sáng tạo làm ra nhiều đồ dùng đồ 
chơi.
 3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch và nội dung giáo dục bảo vệ môi 
trường lồng ghép vào các chủ đề
 Biện pháp này tôi đã xây dựng kế hoạch lồng ghép lựa chọn các nội dung 
theo các chủ đề như sau:
 3.2.1. Chủ đề trường mầm non:
 - Ở chủ chủ đề này tôi giới thiệu cho trẻ các khu vực trong trường, các khu 
vệ sinh, nơi bỏ rác, vứt rác. Trò chuyện về sự cần thiết của việc rửa tay, rửa mặt. 
Những thời điểm cần rửa tay, rửa mặt (Trước khi ăn, sau khi ăn, sau khi đi vệ 
sinh, sau khi hoạt động ngoài trời, và khi tay bẩn). Tôi còn giáo dục trẻ có ý thức 
giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, không hái hoa bẻ cành cây xung quanh trường 
lớp, biết chăm sóc, bảo vệ cây xanh 
 - Bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi.
 - Giữ gìn và bảo vệ đồ dùng đồ chơi, lau dọn vệ sinh trường lớp.
 - Đi vệ sinh đúng nơi quy định
 Ví dụ: Giờ hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ đi thăm quan trường mầm non, 
tôi giới thiệu cho trẻ biết những đồ chơi trong sân trường, cho trẻ chơi, và tìm 
hiểu từng đồ chơi, sau đó giáo dục trẻ phải biết giữ gìn đồ chơi của trường của 
lớp.
  Kết quả đạt được: Trẻ có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi của trường của 
lớp, có ý thức bảo vệ cây xanh trong sân trường
 (Hình ảnh 4: Trẻ lau dọn góc chơi- trang 12)
 3.2.2. Chủ đề bản thân 
 Mục đích là giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ 
sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có hành vi và thói quen tốt trong 
ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường,...Nhận biết ký hiệu 
thông thường: nhà vệ sinh nam, nhà vệ sinh nữ, thùng đựng rác, Và biết một số 
vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ,... 
 - Giáo dục trẻ ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường 
đối với sức khỏe con người. 
 5 - Trẻ có hành vi thói quen tốt trong ăn uống: Mời cô, mời bạn .
 - Sử dụng đồ dùng vệ sinh cá nhân sạch sẽ
 - Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước.
 Ví dụ: Trong giờ vệ sinh rửa mặt rửa tay, tôi trò chuyện với trẻ về các thao 
tác rửa tay, rửa mặt đúng trình tự và đủ các bước, qua đó tôi giáo dục trẻ tiết kiệm 
nước khi rửa tay.
  Kết quả đạt được: Trẻ có ý thức bảo vệ cơ thể, biết yêu thương chia sẻ 
giúp đỡ mọi người
 3.2.3. Chủ điểm nghề nghiệp
 - Tôi cho trẻ tìm hiểu các nghề trong xã hội, trong đó có những người làm 
công tác vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường.
 - Giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, tôn trọng những người 
làm cho môi trường xanh- sạch- đẹp.
 Ví dụ: Giờ học khám phá khoa học: Tôi trò chuyện với trẻ về cô chú lao 
công, công việc của cô chú lao công, và lợi ích mà các cô chú lao công mang lại.
 Cho trẻ quét dọn vệ sinh sân trường, chơi những trò chơi, tìm những hình 
ảnh đúng sai về bảo vệ môi trường.
 (Hình ảnh 5. Trẻ cùng cô quét sân trường- trang 13)
 Ví dụ: Tôi cho trẻ cho trẻ đóng vai bác làm vườn, chăm sóc cây xanh, tôi 
cho trẻ cùng nhau chăm sóc cây, tưới nước, nhổ cỏ, lau lá qua những công việc 
trẻ làm, trẻ thêm yêu những người trồng cây, trẻ hứng thú khi được tự mình chăm 
sóc cây, giúp cây phát triển hàng ngày. 
 - Để đạt được kết quả cao, sau mỗi giờ học, giờ chơi tôi luôn động viên 
khen ngợi trẻ, khi trẻ làm được những việc có ích, trẻ được cô khen, trẻ rất tự hào 
với các bạn. Từ đó trẻ luôn ghi nhớ và nhắc nhở nhau biết bảo vệ môi trường và 
luôn làm những hành động tốt để cô khen.
 (Hình ảnh 6: Trẻ được cô khen- trang 13)
  Kết quả đạt được: Trẻ có ý thức bảo vệ môi trường luôn trân trọng biết 
ơn người làm cho môi trường xanh- sạch- đẹp.
 3.2.4. Chủ điểm thế giới động vật 
 6 Ngoài việc tôi cung cấp cho trẻ kiến thức về đặc điểm, ích lợi cũng như tác 
hại của một số con vật với đời sống con người. Tôi còn giáo dục trẻ yêu quí các 
con vật nuôi, mong muốn và thực hiện những hành động tốt để chăm sóc bảo vệ 
những con vật gần gũi. 
 - Giáo dục trẻ bảo vệ chăm sóc vật nuôi và có ý thức bảo vệ những loài 
động vật quý hiếm.
 Tôi cùng trẻ tìm hiểu về các con vật và ích lợi khi nuôi các con vật trong 
gia đình và biết bảo vệ bản thân khi chơi cùng động vật nuôi trong gia đình.
 Tôi cùng trẻ chơi các trò chơi vận động như: Kiến bò cò mổ, con kiến .
 Tôi cùng trẻ nhặt lá trên sân trường để làm các con vật như con cá, con thỏ, 
con rùa..... 
 3.2.5. Chủ điểm thực vật
 Tôi trình chiếu cho trẻ biết quá trình phát triển của cây ích lợi của cây xanh 
với môi trường sống và biết ảnh hưởng của việc chặt phá rừng bừa bãi làm cho 
môi trường ô nhiễm, thiên tai xảy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời 
sống của con người.
 (Hình ảnh 8: Trẻ cùng cô chăm sóc vườn rau Trang 15 )
 - Không vứt rác bừa bãi, không nói to nơi công cộng
 - Không ngắt lá, bẻ cành
 - Hưởng ứng chiến dịch trồng cây nhân dịp đầu xuân.
 Tôi cho trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành, trải nghiệm, thí nghiệm, chơi 
các trò chơi để trẻ nhận ra được những việc làm tốt, những việc không tốt, hành 
động đúng, hành động sai, kích thích trẻ suy nghĩ bộc lộ tình cảm, có thái độ phù 
hợp với môi trường trong và ngoài lớp học. 
 Ví dụ: Khám phá khoa học tôi cho trẻ tìm hiểu khám phá hoa cúc tôi cho 
trẻ nói đặc điểm, cho trẻ sờ, trải nghiệm, hoa hồng, hoa cúc (hoa thật), tôi trò 
chuyện cùng trẻ: trồng hoa có ích lợi như thế nào? Qua lợi ích của cây hoa mang 
lại tôi giáo dục trẻ phải biết chăm sóc bảo vệ cây, không ngắt hoa, bẻ cành. Sau 
giờ học tôi cho trẻ thực hành trồng cây, chăm sóc cây. Trẻ được thực hành trải 
nghiệm sẽ giúp trẻ hiểu thêm công việc và ý nghĩa của việc trồng cây, từ đó trẻ có 
kỹ năng chăm sóc và bảo vệ cây, cùng nhau tham gia bảo vệ môi trường. 
 7 Thông qua hoạt động học, trẻ phát triển tư duy, tính sáng tạo.
 Ngoài ra tôi còn đưa một số bài hát như : Màu hoa, em yêu cây xanh, hay 
những bài thơ: hoa kết trái.....qua những lời ca tiếng hát trẻ thêm yêu thiên nhiên, 
yêu những điều giản dị xung quanh trẻ. Cho trẻ chơi một số trò chơi, gieo hạt, 
cuốc đất...
  Kết quả đạt được: Biết lợi ích của cây xanh và tác hại của việc chặt phá 
rừng, qua đó trẻ yêu thiên nhiên và có ý thức hành vi có văn hóa với thiên nhiên.
 3.2.6 Nước và hiện tượng tự nhiên
 Giúp trẻ biết về các hiện tượng tự nhiên: gió, mây,mưa, sấm chớp, sét, lũ 
lụt, núi lửa.... và trẻ biết được nguyên nhân của các hiện tượng như: Bão, lũ, cháy 
rừng, sạt lỡ đất là do con người chặt phá rừng trái phép, do trái đất bị ô nhiễm 
nghiêm trọng.
 Tôi cho trẻ tìm hiểu về các hiện tượng tự nhiên và những ảnh hưởng xấu 
của hiện tượng tự nhiên gây ra: Sấm sét, mưa bão...
 Cũng qua chủ đề này trẻ biết phân biệt đặc điểm của nước, nguồn nước 
sạch, nước bẩn, ích lợi của nước sạch, biết tiết kiệm nước sạch, tránh xa những 
nguồn nước bẩn gây ô nhiễm bệnh tật cho con người....
 Cho trẻ biết sự cần thiết của nước, cho trẻ xem một số hình ảnh, video về 
biến đổi khí hậu
 Tôi cho trẻ cùng quan sát thí nghiệm với 2 con cá ở 2 bình nước khác nhau 
( bình nước sạch và bình nước bẩn) cho trẻ nhận xét về sự tồn tại của hai con cá 
đó. 
  Kết quả đạt được: Trẻ có ý thức bảo vệ môi trường, biết được tầm quan 
trọng của môi trường đối với con người. Trẻ có ý thức bảo vệ nguồn nước.
  Kết quả đạt được: Như vậy việc lồng ghép GDBVMT cho trẻ thông qua 
các chủ đề khác như ở chủ đề: Trường mầm non, bản thân, gia đình, nghề nghiệp, 
động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên, trẻ có những kiến thức hiểu biết về chăm 
sóc cho bản thân, về môi trường xung quanh, biết sử dụng và giữ gìn đồ dùng 
luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp.... biết sống vì môi trường, bảo vệ và giữ gìn môi 
trường, có thái độ đúng với môi trường một cách tích cực và hiệu quả.
 8 Với việc xây dựng và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường lồng ghép vào 
các chủ đề giúp trẻ luôn có ý thức bảo vệ môi trường, ở mọi lúc mọi nơi. Qua đó 
tôi thấy việc lồng ghép các hoạt động hàng ngày để giáo dục trẻ có ý thức bảo vệ 
môi trương và đạt hiệu quả cao.
 3.3. Biện pháp tuyên truyền các bậc phụ huynh cùng tham gia bảo vệ 
môi trường.
 Để giúp trẻ có thói quen bảo vệ môi trường tôi thường xuyên trao đổi với 
phụ huynh về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng 
ngày. Tôi tuyên truyền tới các bậc phụ huynh hạn chế sử dụng túi nilong thay vào 
đó là túi vải, giấy báo, lá chuối,.... để bọc thức ăn, hay về việc tái sử dụng chai 
nhựa bằng cách gom những chai nhựa, để làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo cho con 
tại nhà.
 Qua cuộc họp phụ huynh tôi trao đổi cùng phụ huynh về việc hạn chế tối đa 
việc cho trẻ ăn những thực phẩm ăn nhanh, luôn chuẩn bị bữa sáng tại gia đình để 
đảm bảo an toàn thực phẩm, đảm bảo đủ dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ, nhằm 
giảm lượng rác thải, túi bóng nilong, hộp sữa tại trường. 
 - Phụ huynh đã hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.Từ 
đó phụ huynh dành thời gian để dạy trẻ về kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng vệ sinh, 
dạy trẻ biết tránh xa những nơi nguy hiểm, biết phân biệt được hành vi đúng, sai, 
môi trường bẩn, môi trường sạch,...
 - Phụ huynh lớp tôi còn nhiệt tình ủng hộ lớp những chậu cây cảnh nhỏ, cây 
xanh, hạt giống để tạo cho khung cảnh vườn trường thêm đẹp hơn.
 (Hình ảnh 9: Phụ huynh ủng hộ cây xanh cho lớp- trang 15)
 Từ việc tuyên truyền các bậc phụ huynh chung tay bảo vệ môi trường 
không chỉ ở trường học mà còn vệ sinh môi trường xung quanh nơi ở: phát quang 
bụi rậm, khơi thông cống rãnh,... từ đó mà trẻ lớp tôi có rất ít bạn mắc bệnh 
truyền nhiễm do môi trường, thời tiết gây ra.
 ➢ Sau khi tôi đưa biện pháp tuyên truyền tới các bậc phụ huynh cùng tham 
 gia bảo vệ môi trường tôi thấy phụ huynh nhiệt tình ủng hộ, có ý thức tích 
 cực cùng lớp và nhà trường chung tay bảo vệ môi trường và giáo dục trẻ có 
 ý thức với môi trường.
 9 Qua quá trình khảo sát áp dụng “Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi 
trường cho trẻ 3- 4 tuổi trong trong trường mầm non” tôi đã thu được kết quả 
như sau: 
 + Về phía trẻ hơn 95% trẻ có ý thức tham gia các hoạt động cộng đồng, biết 
giữ vệ sinh môi trường
 + Về phía giáo viên: 100% giáo viên nắm chắc nội dung BVMT, vận dụng 
các phương pháp, phù hợp, để đưa vào giáo dục trẻ hằng ngày
 + Về phía phụ huynh: 100% phụ huynh nhận thấy trách nhiệm của mình 
đối với việc BVMT để giữ gìn sức khỏe cho trẻ và cộng đồng
 III. PHẠM VI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
 Với hiệu quả của “Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 3- 
4 tuổi trong trường mầm non”, tôi nhận thấy có thể áp dụng rộng rãi biện pháp 
này với các lớp trong toàn trường và áp dụng rộng rãi ở các trường khác.
 Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng đề tài vào thực tế lớp 
học của mình, tôi thấy học sinh lớp tôi có những chuyển biến rõ rệt trong nhận 
thức cũng như việc làm cụ thể, trẻ có ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường, tuyên 
truyền cùng mọi người về ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường xanh- 
sạch- đẹp.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 Xác nhận của lãnh đạo cơ quan Kim Hải, ngày tháng năm 2020
 Người viết 
 10 PHỤ LỤC
STT Nội dung Trang
 I TÊN BIỆN PHÁP, LĨNH VỰC ÁP DỤNG 1
 II NỘI DUNG BIỆN PHÁP 1
 1 Cơ sở lý luận 1
 2 Cơ sở thực tiễn 2
 3 Các biện pháp thực hiện, kết quả đạt được 3
3.1 Biện pháp 1: Xây dựng môi trường trong và ngoài 4
 lớp học an toàn thân thiện
3.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch và nội dung giáo 5
 dục BVMT lồng ghép vào chủ đề.
3.4 Biện pháp 3: Tuyên truyền các bậc phụ huynh cùng 9
 tham gia BVMT
III PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA BIỆN PHÁP 10
 11 HÌNH ẢNH MINH HỌA
 Hình ảnh 1: Góc thiên nhiên
Hình ảnh 2: Trẻ vui chơi
 12 Hình ảnh 3: Đồ chơi tái chế
Hình ảnh 4: Trẻ dọn góc chơi
 13 Hình ảnh 5: Trẻ dọn sân trường
 Hình ảnh 6: Trẻ được cô khen
 14 Hình ảnh 8: Trẻ cùng cô chăm sóc vườn rau
Hình ảnh 9: Phụ huynh ủng hộ cây xanh cho lớp
 15

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_bao_ve_moi_t.doc