Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số

docx 35 trang vietcuong 02/04/2026 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số

Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số
 PHẦN THỨ NHẤT. ĐẶT VẤN ĐỀ
 I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
 Trẻ em là niềm tự hào lớn của mỗi gia đình, là nền tảng chủ nhân tương lai 
cho đất nước. Trẻ mầm non là lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát 
triển nhân cách, trẻ còn non nớt về thể chẩt, tình cảm và trí tuệ. Trẻ phải học mọi 
thứ từ cuộc sống đa dạng, sinh động để phát triển. Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống 
cho trẻ để giúp trẻ thích nghi với cuộc sống hiện nay thì trẻ càng phải học nhiều 
hơn đặc biệt với trẻ dân tộc thiểu số càng cần phải học những kỹ năng sống đó để 
hòa nhập ứng phó với cuộc sống hằng ngày đồng thời giúp trẻ định hướng đúng 
đắn để phát triển nhân cách toàn diện là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu.
 Giai đoạn 3 tuổi là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển toàn diện của 
trẻ. Đây là thời kỳ trẻ hình thành các kỹ năng cơ bản về thể chất, nhận thức, ngôn 
ngữ, xã hội và cảm xúc. Việc được trang bị các kỹ năng sống phù hợp sẽ giúp trẻ 
dân tộc thiểu số có nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện.
 Trẻ dân tộc thiểu số thường sống trong điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, 
thiếu cơ hội tiếp cận với các chương trình giáo dục chất lượng. vì vậy giáo dục 
kỹ năng sống sẽ giúp bù đắp những thiếu hụt về cơ hội học tập giữa trẻ dân tộc 
thiểu số và trẻ ở các vùng khác, từ đó thúc đẩy công bằng xã hội và sự phát triển 
nhân cách toàn diện.
 Các kỹ năng sống như tự chăm sóc bản thân, giao tiếp, giải quyết vấn đề, 
quản lý cảm xúc rất cần thiết để trẻ dân tộc thiểu số có thể thích ứng tốt với 
môi trường sống và hội nhập cộng đồng. Việc được trang bị các kỹ năng này sẽ 
giúp trẻ tự tin, chủ động và có khả năng thích ứng tốt hơn. Giáo dục kỹ năng sống 
cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số là rất cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng, góp phần 
nâng cao chất lượng cuộc sống và cơ hội phát triển cho trẻ sau này.
 Để đạt được điều đó thì việc chăm sóc giáo dục trẻ phải có sự chung tay 
góp sức của gia đình, nhà trường và xã hội. Hiện nay xã hội phát triển công nghiệp 
hóa, hiện đại hóa nên nhiều các bậc phụ huynh có rất ít thời gian để quan tâm đến 
con cái. Nhiều phụ huynh mải lướt facebook, zalo, bố mẹ không nói chuyện với 
nhau và không quan tâm đến con cái. Bố mẹ cho các con xem điện thoại hoặc 
xem ti vi thường xuyên. Chính vì vậy trẻ em ít được giao tiếp với cha mẹ, trẻ bị 
thu mình lại không được khám phá thế giới xung quanh mình. Điều này làm ảnh 
 1 hưởng rất lớn đến sự phát triển nhận thức, tình cảm và sự phát triển toàn diện 
nhân cách của trẻ. 
 Với trẻ 3 tuổi kỹ năng sống chiếm một vị trí hết sức quan trọng nó góp 
phần giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách con người. 
 Bản thân tôi là giáo viên đứng lớp 3 tuổi. Tôi thấy giáo dục kỹ năng sống rất 
là quan trọng đối với trẻ vì nó là nền tảng cho việc học tập và thích ứng với cuộc 
sống sau này. Nếu các con không có số kỹ năng sống thì sẽ ảnh hưởng lớn đến sự 
phat triển nhân cách của các con. 
 Trong thực tế giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi còn hạn chế, ăn nói lấc 
cấc, chưa chào hỏi khi khách đến nhà hoặc đi về nhà không biết chào hỏi người 
lớn trong gia đình 
 Bản thân tôi là một giáo viên lớp 3 tuổi bản địa đã gắn bó với nghề được 
mười lăm năm và đã phần nào hiểu được những đặc điểm tâm sinh lí của trẻ vùng 
dân tộc thiểu số. Cuộc sống kinh tế khó khăn, việc giáo dục kỹ năng sống chưa 
được trú trọng nhiều. Nhất là trong thời đại 4.0 hiện nay sự tác động và ảnh hưởng 
của mặt trái của xã hội làm cho đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng. Vì vậy 
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em dân tộc miền núi sẽ rất quan trọng cụ thể là:
 Tạo nền tảng các kỹ năng sống như tự chăm sóc bản thân, giao tiếp, giải quyết 
vấn đề, quản lý cảm xúc là nền tảng quan trọng cho việc học tập và thích ứng với 
cuộc sống sau này.
 Chương trình giáo dục mầm non hiện nay đều nhấn mạnh tầm quan trọng của 
việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, đây là một yêu cầu bắt buộc.
 Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi ở trường mầm non đặc biệt 
là với trẻ dân tộc thiểu số là rất cấp thiết và cần được quan tâm đúng mức.
Bản thân tôi nhận thức được tính cấp thiết đó, nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề 
tài “Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số” 
để làm để tài nghiên cứu. 
 II. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến
 Thông qua đề tài nhằm giáo dục cho trẻ có một số kỹ năng sống hữu ích nhất 
vào cuộc sống hàng ngày như: 
Giúp trẻ có kỹ năng tự tin trong giao tiếp, tự phục vụ bản thân trong các hoạt 
động hàng ngày như ăn, mặc, vệ sinh cá nhân, cất đồ, trẻ biết chia sẻ, hợp tác 
với bạn bè và các kỹ năng thoát hiểm, phòng tránh tai nạn, hỏa hoạn, bắt cóc...
 2 Đây là mục tiêu giúp trẻ 3 tuổi phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, xã hội và 
cảm xúc, chuẩn bị tốt cho việc học tập và hòa nhập cộng đồng trong tương lai.
 Hơn nữa thông qua đề tài giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm trong việc 
giáo dục, nâng cao được chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ góp phần xây dựng 
trường học thân thiện, lớp học hạnh phúc.
III. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
 - Thời gian nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 
5 năm 2024, củng cố và thực hiện áp dụng từ tháng 09 năm 2023 tới các năm tiếp 
theo.
 - Đối tượng nghiên cứu: “Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho 
trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số”
 - Phạm vi nghiên cứu: Trẻ lớp 3 tuổi trường mầm non nơi tôi công tác.
 3 PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
 I. Hiện trạng vấn đề:
 1. Cơ sở lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: 
 Kỹ năng sống cho trẻ mầm non đặc biệt là với trẻ dân tộc thiếu số là những 
kỹ năng cơ bản cần có cho trẻ hình thành những hành vi đẹp lành mạnh. Kỹ năng 
sống chính là phương tiện không thể thiếu để giúp trẻ chủ động, sáng tạo, mạnh 
dạn, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử thách.
 Với trẻ 3 tuổi rèn kỹ năng sống ngay từ ban đầu trẻ sẽ có những hành vi, 
cách ứng xử đẹp với những người xung quanh từ đó trẻ sẽ hoàn thiện nhân cách 
tốt cho trẻ. Trẻ bắt đầu tự lập hơn, tăng khả năng tự phục vụ và tự quản lý bản 
thân. Nhu cầu và đặc điểm của trẻ vùng dân tộc thiểu số có nền tảng văn hóa, 
ngôn ngữ và điều kiện sống khác biệt so với trẻ ở vùng đô thị. Trẻ cần được tiếp 
cận với các kỹ năng sống phù hợp với bối cảnh văn hóa và điều kiện sống của địa 
phương. Trẻ cần được trang bị các kỹ năng cơ bản để thích ứng với môi trường 
sống và hội nhập cộng đồng. 
 Trên thực tế giáo dục kỹ năng sống là sử dụng các hoạt động trải nghiệm, 
thực hành gắn với cuộc sống hàng ngày của trẻ, cần sự kết hợp giữa giáo dục 
trong nhà trường và gia đình, cộng đồng. Đồng thời chú trọng đến việc tôn trọng 
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
 2. Thực trạng điều tra ban đầu. 
 2.1. Thuận lợi
 Được BGH quan tâm tạo điều kiện về mọi mặt ,ban giám hiệu năng động, 
vững vàng về chuyên môn luôn chỉ đạo sát sao đến mọi công việc, quan tâm đến 
đời sống của cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường. Được một số phụ huynh 
quan tâm phối hợp cùng cô.
 Với những thuận lợi lớn đó là một giáo viên bản địa có thể nói và hiểu được 
tiếng bản địa nên mỗi khi gặp phải vướng mắc trong giao tiếp giữa cô với trẻ tôi 
phải phiên dịch lại từ tiếng dân tộc ra tiếng phổ thông để trẻ nghe và hiểu, cùng 
với đó là được các bạn đồng nghiệp quan tâm tận tình giúp đỡ của đồng nghiêp.
 Trẻ đi học chuyên cần, trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn, giáo viên ở lớp đều đạt 
trên chuẩn.
 Đó là một thuận lợi lớn trong quá trình thực hiện đề tài “Một số kinh 
nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số”
 Bên cạnh những mặt thuận lợi, còn tồn tại một số những khó khăn.
2.2. Khó khăn
 * Về phía giáo viên.
 4 Giáo viên còn hạn chế về kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, chưa 
linh hoạt, chưa sáng tạo, còn thiếu tài liệu tham khảo về giáo dục kỹ năng sống 
cho trẻ. Sự kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh còn hạn chế, đây cũng là một 
khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
 * Về phía phụ huynh.
 Đa số phụ huynh của lớp là lao động nông nghiệp nhận thức thế giới xung 
quang còn hạn chế, phụ huynh chưa ý thức được tầm quan trọng của việc giáo 
dục giáo kỹ năng sống cho con em mình, dân sống chủ yếu bằng cây thuốc nam 
nên suốt ngày lên núi tìm hái cây thuốc chưa sát sao với con, một số gia đình thì 
nuông chiều con cho con chơi điện thoại, ỷ lại cho cô giáo.
 * Về phía trẻ.
 Có 99% là con em đồng bào dân tộc thiểu số, việc giao tiếp, nhận thức của 
trẻ chưa đồng đều, trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: 
Internet, tivi, điện thoại, các trò chơi điện tử, trẻ nhút nhát chưa mạnh dạn trong 
các hoạt động, kỹ năng sống còn hạn chế nhiều.
 Từ thực trạng trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu và ứng dụng một số kinh 
nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số là một việc làm hết 
sức cần thiết, có vai trò to lớn trong việc giáo dục trẻ.
3. Bảng điều tra khảo sát trước khi thực hiện đề tài 
 Khảo sát thực tế ở lớp 3 tuổi C1 với những thuận lợi và khó khăn nêu trên 
tôi đã nhận thấy một số kỹ năng sống của trẻ 3 tuổi còn hạn chế nên tôi đã tiến 
hành điều tra khảo sát thực tế về kỹ năng sống của trẻ 3 tuổi trong lớp tôi qua 4 
tiêu trí trước khi thực hiện đề tài qua bảng số liệu cụ thể như sau: 
 (Bảng 1 khảo sát thực tế đầu năm tại lớp 3 tuổi - Tháng 9)
 Tiêu trí khảo sát Mức độ đạt được
 Số trẻ 
 Đạt % Chưa đạt %
 1. . Kỹ năng: Lễ giáo chào hỏi
 23 9 trẻ 39,1% 14 trẻ 60,9%
 2. Kỹ năng: Giao tiếp, hợp tác, chia 
 43,5% 56,5%
 sẻ 23 10 trẻ 13 trẻ
 3. Kỹ năng: Tự phục vụ cất dọn, đồ 
 23 34,8% 65,2%
 dùng, đồ chơi đúng nơi quy định 8 trẻ 15 trẻ
 5 4. Kỹ năng: Bảo vệ bản thân 
 69,5 
 phòng tránh thoát hiểm khi bị hỏa 23 7 trẻ 30,5% 16 trẻ
 %
 hoạn cháy hoặc bị bắt cóc
 Nhìn vào bảng điều tra số liệu trên tôi thấy kỹ năng sống của trẻ là rất thấp, 
còn có rất nhiều trẻ chưa mạnh dạn tự tin trong giáo tiếp, trẻ chào hỏi còn dụt dè, 
chưa biết hợp tác chia sẻ nhường nhịn, chưa phân biệt đúng sai, chưa đoàn kết, 
chưa biết cất dọn đồ chơi theo quy định, giữ gìn vệ sinh cá nhân, chưa biết bảo 
vệ bản thân và cách phòng thoát hiểm khi bị cháy hoặc bị bắt cóc.
 Tôi đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau:
 Do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế dẫn đến việc dạy một số kỹ năng 
sống cho trẻ chưa đạt hiệu quả cao
 Do một phần là hàng ngày ở lớp tôi chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng sống 
cho trẻ
 Do phụ huynh chưa thực quan tâm đến con em bỏ mặc cho cô giáo mải lo 
lên núi hái thuốc lo cơm áo gạo tiền, dảnh chút thì lướt facebook, zalo.
 Đứng trước thực trạng trên tôi đã thưc sự băn khoăn làm thế nào để giúp 
trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản nhất trong cuộc sống hàng để làm hành 
trang cho tương lai sau này.
 Vì vậy tôi đã mạnh dạn học tập, tìm hiểu và đưa ra “ Một số kinh nghiệm 
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số”
 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 
 1. Những biện pháp chính: 
Biện pháp 1: Tự bồi dưỡng chuyên môn bản thân, chia sẻ kinh nghiệm với đồng 
nghiệp về giáo dục kỹ năng sống.
Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày 
Biện pháp 3: Dạy trẻ kỹ năng phòng tránh cháy nổ và kỹ năng khi gặp người lạ
Biện pháp 4: Chú ý đặc điểm riêng và kết hợp với phụ huynh cùng giáo dục kỹ 
năng sống cho trẻ.
Biện pháp 5: Tận dụng lợi thế là giáo viên bản địa để giáo dục kỹ năng sống cho 
trẻ.
 2. Các Biện pháp thực hiện từng phần 
 2.1. Biện pháp 1: Tự bồi dưỡng chuyên môn bản thân, chia sẻ kinh 
 nghiệm với đồng nghiệp về giáo dục kỹ năng sống. 
 6 Trước đây tôi chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của việc kỹ năng sống cho trẻ, 
song tôi thấy vai trò kỹ năng sống cho thế hệ trẻ có chiều hướng đi xuống trầm 
trọng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về mọi mặt của trẻ sau này do một phần 
ảnh hưởng của cuộc sống hiện đại, của mạng xã hội. 
Ngày nay tôi nhận thấy giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số nơi 
tôi công tác rất quan trọng bởi vì con người muốn có nhân cách tốt thì phải bắt 
nguồn từ kỹ năng sống cơ bản nhất nếu không có những kỹ năng đó thì tương lai 
con người sẽ chẳng đi đến đâu. Vì thế thế để có được kinh nghiệm về kỹ sống để 
giáo dục cho trẻ trước hết tôi cần phải tìm kiếm nguồn tài liệu đọc tham khảo biện 
pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ qua sách, báo, cả học trực tuyến trên mạng và học 
hỏi một số đồng nghiệp trường bạn.
 Trên thực tế hiện nay ở trường mầm non chúng tôi, đội ngũ giáo viên còn 
chưa được đồng đều, nhiều giáo viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm 
cụ thể là qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô, 
chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, tự phục vụ vì trẻ còn thụ động dựa dẫm. 
Hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng 
chưa thực hiện tốt. Vì vậy việc bồi dưỡng một số kiến thức kỹ năng sống cho giáo 
viên trong nhà trường hết sức cần thiết và nhà trường đã có kế hoạch chỉ đạo 
tháng họp chuyên môn 2 lần và chú trọng nhiều đến vấn đề dạy trẻ kỹ năng sống 
trong trường cho trẻ dân tộc thiểu số vì còn nhiều giáo viên chưa hiểu rõ tầm quan 
trọng của vấn đề và có ít kỹ năng giảng dạy truyền đạt cho trẻ hiểu để hình thành 
cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản, vì vậy ngay từ đầu năm học nhà trường đã 
tiến hành họp chuyên môn và nêu nhiệm vụ trọng tâm của năm học trong đó nhấn 
mạnh việc đưa các kỹ năng sống để dạy trẻ biết được một số kỹ năng cơ bản như: 
Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi lễ phép, kỹ năng tự phục vụ bản thân, kỹ năng, kỹ 
năng thoát hiểm...
 Tôi thấy đây là một vấn đề quan trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ 
sau này. Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi tham khảo sách 
báo để tìm ra những kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho trẻ dân tộc 
thiểu số là rất quan trọng cần thiết và cấp bách đối với trẻ nên trong các buổi họp 
sinh hoạt chuyên môn của khối tôi đã trao đổi với các bạn đồng nghiệp có kinh 
 7 nghiệm để học hỏi và cùng nhau chia sẻ với đồng nghiệp về “một số kinh nghiệm 
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số”.
VD: Hàng tháng trường tôi tổ chức cho giáo viên họp tổ chuyên môn 2 lần trong 
tháng, tổ trưởng triển khai kế hoạch tuần, tháng. Giáo viên trao đổi và đưa ra 
những ý kiến, những biện pháp và những kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho 
trẻ 3 tuổi đã thực hiện ở lớp để cùng nhau thực hiện giáo dục kỹ năng cho trẻ một 
cách tốt nhất, những ý kiến đóng góp về những kinh nghiệm, những kỹ năng đã 
được các bạn đồng nghiệp trong tổ thống nhất, nhất trí để đưa kỹ năng đó vào 
giáo dục trẻ, và cho trẻ trải nghiệm thực hành thực tế.
Hình ảnh 1: Học hỏi chia sẻ giáo dục kỹ năng sống cùng đồng nghiệp 
 Với sự nổ lực của bản thân một qua năm tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi 
bồi dưỡng cho bản thân những kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em 
dân tộc thiểu số qua internet, qua tài liệu sách, báo để tìm ra những biệp pháp áp 
dụng vào dạy trẻ và cho trẻ thực hành trải nghiệm hàng ngày đã giúp tôi hiểu và 
nắm vững tâm sinh lí của trẻ và có một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống 
cho trẻ. Bằng biện pháp này tôi thấy mình đã tiến bộ và tự tin dạy các con kỹ năng 
sống qua các hoạt động ở trường lớp rất tốt. 
2.2. Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động 
hàng ngày 
 Trước kia tôi chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng sống của trẻ trong các hoạt 
động hàng ngày bởi chỉ nghĩ đơn giản là trẻ đến được cô hướng dẫn cất đồ dùng 
cá nhân, nghe lời cô dạy, biết ăn, biết ngủ, biết đi vệ sinh đúng chỗ, an toàn không 
ngã trẻ là tốt lắm rồi, nhưng sau khi tôi được đi tập huấn, tham quan ở những 
trường điểm tôi thấy trẻ ở đó có được những kỹ năng sống cơ bản trong sinh hoạt 
hàng ngày rất tốt.
 Cũng từ đây tôi ý thức được tầm quan trọng không thể thiếu của việc giáo dục 
kỹ năng sống cho trẻ là rất cần thiết đặc biệt là với trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số ở 
nơi đây, nhất là với trẻ 3 tuổi đây là thời kỳ vàng để trẻ khởi đầu cho mọi kỹ năng 
sống phục vụ cho tương lai sau này của trẻ. Vì vậy tôi đã dặc biệt chú ý quan tâm 
đến một số kỹ năng sống cơ bản để đưa vào lồng ghép trong các hoạt động hàng 
ngày ở trên lớp như các kỹ năng: Giao tiếp chào hỏi, xin lỗi cảm ơn, hợp tác chia 
sẻ, kỹ năng rửa mặt, rửa tay, kỹ năng cất đồ dùng đồ chơi và kỹ năng bảo vệ bản 
thân thoát hiểm khi gặp nạn . Vì vậy ngay từ đầu năm học sau khi khảo sát tôi 
 8 đã tôi đã xây dựng kế hoạch giáo dục một số kỹ năng sống cho từng tháng trong 
năm học cụ thể dưới đây:
 Kế hoạch giáo dục kỹ năng sống năm học 203-2024
 Tháng 9 Kỹ năng chào hỏi
 Tháng 10 Kỹ năng rửa tay
 Tháng 11 Kỹ năng lau mặt
 Tháng 12 Kỹ năng nói lời xin lỗi, cảm ơn
 Tháng 1 Kỹ năng phòng tránh bắt cóc, không đi theo người lạ
 Tháng 2 Kỹ năng Cởi, cài cúc
 Tháng 3 Kỹ năng an toàn khi ngồi trên xe
 Tháng 4 Kỹ năng vứt giác đúng nơi quy định
 Tháng 5 Kỹ năng phòng tránh hỏa hoạn
 *Trong giờ đón, trả trẻ với kỹ năng giao tiếp chào hỏi thì tôi đã gặp trực 
tiếp phụ huynh để trao đổi với phụ huynh về sức khỏe, về tầm quan trọng của kỹ 
năng chào hỏi lễ phép rồi cùng thống nhất giáo dục các con phụ huynh hiểu được 
điều đó và rất ủng hộ phối hợp cùng cô rèn kỹ năng chào hỏi.
 Thời gian đầu năm học có nhiều trẻ khi được bố mẹ đưa đến lớp khóc sợ 
không vào lớp nhất là với những trẻ không đi lớp 2 tuổi mà bố mẹ cho đủ 3 tuổi 
mới cho đi lớp thì khóc rất nhiều và có cảm giác rất sợ khi đi lớp gào khóc không 
chịu vào lớp ôm chặt lấy bố mẹ, khi cô đón bế thì khóc ôm chặt lấy cô không rời, 
không chịu ngồi cùng bạn nhưng với thái độ gần gũi đón trẻ niềm nở, ân cần của 
cô giáo, cô đã nhẹ nhàng bảo ban và hướng dẫn được trẻ ngồi cùng bạn và trẻ đã 
dần dần hết khóc lúc đầu trẻ có nhiều trẻ nhút nhát dụt dè chưa nói truyện, chưa 
chào cô khi đến lớp nhưng khi vào lớp rồi cô tận dụng mọi cơ hội gần gũi nói 
truyện với trẻ rồi trẻ cảm nhận được sự gần gũi thân thiện ấm áp và trẻ đã nói 
chuyện với cô với các bạn trong lớp.
 Lớp học chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là nơi 
đa văn hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Mô hình này tạo cơ hội cho tôi có 
thể dạy cho trẻ học cách chấp nhận và có cơ hội để khám phá những sở thích, 
những mối quan tâm chung của nhau. Nói được những điều mình thích và điều 
mình không thích cho ban và cô giáo hiểu về mình.
Với sự ân cần và niềm nở của cô chỉ sau một thời gian các con đã mạnh dạn tiến 
bộ rất nhiều trong giao tiếp với các bạn trong lớp .
 Hình ảnh 2: Cô đón trẻ kết hợp giáo dục kỹ năng chào hỏi
 9 *Đối với giờ thể dục sáng: Cô dạy trẻ biết các kỹ năng vận động, biết siêng năng 
rèn luyện để cơ thể khỏe mạnh, rèn kỹ năng kỷ luật đi lên, xuống cầu thang cho 
trẻ đi theo hàng lối, không xô đẩy nhau.
*Trong giờ vệ sinh: Tôi dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ như: Đi vệ sinh đúng nơi 
quy định sau khi đi vệ sinh phải rửa tay bằng xà phòng.
*Với hoạt động học: Tôi lồng ghép một số kỹ năng sống vào trong đó để giáo dục 
trẻ và cho trẻ thực hành trải nghiệm.
 Ví dụ: Trong giờ học khám đầu tuần tôi cho trẻ tìm hiểu về quả trứng và 
cho thực hành kỹ năng bóc vỏ trứng, tôi cho mỗi trẻ 1 quả trứng luộc và yêu cầu 
trẻ bóc tách vỏ trứng, trẻ rất thích và ngồi bóc tỷ mỉ, khéo léo, vỏ để riêng ra 1 
mẹt và trứng để vào đĩa. Trẻ được trải nghiệm kỹ năng bóc vỏ trứng và được 
khám phá luôn về cấu tạo bên ngoài bên trong và mùi vị của quả trứng trẻ rất hào 
hứng và thích thú vô cùng. Qua hoạt động này cũng rèn thêm cho trẻ kỹ năng tỷ 
mỉ nhấn nại trẻ. Đây cũng là hoạt động tôi đã tham gia thi giáo viên giỏi cấp 
trường và đạt giải nhì cấp trường.
 Hình ảnh 3: Trẻ trải nghiệm kỹ năng bóc vỏ trứng
 * Đối với giờ học tạo hình: “ tô màu đèn giao thông ”
Cô giáo dục trẻ nhận biết tín hiệu đèn giao thông (xanh, đỏ, vàng) biết khi tín 
hiệu đèn đỏ bật lên thì phải gì, đèn vàng thì làm sao, đèn xanh thì như thế nào? 
Với hoạt động này thì tôi lồng được cả kỹ năng nhận bết tín hiệu đèn và rèn kỹ 
năng cách cầm bút cho trẻ. 
* Đối với hoạt động làm quen văn học: Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt 
động này giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, trong đó tôi đã lồng ghép kỹ năng 
giáo dục đạo đức, kỹ năng hợp tác chia sẻ, tình đoàn kết, biết nói cảm ơn, xin lỗi 
...trong (tiêu chí 1 và 2). Với tiết kể chuyện và đóng kịch “ Chú thỏ bureny, Thỏ 
con ăn gì, thức dậy đi nào thỏ con không vâng lời”. Với truyện “thỏ con không 
vâng lời” tôi đã đưa ra một số câu hỏi đàm thoại:
- Thỏ mẹ dặn thỏ con như thế nào?
- Thỏ con đã biết nghe lời mẹ chưa?
-Thỏ con đã đi chơi cùng ai?
- Ai đã đưa thỏ con về nhà?
- Thỏ con đã xin lỗi ai? 
 10 -Hai mẹ con thỏ đã nói lời gì với bác Gấu?
Với những câu hỏi này giúp trẻ biết được đúng và nhận sai và biết xin lỗi, cảm 
ơn khi được giúp đỡ.
 Hay trong hoạt động đóng kịch “thức dậy đi nào” tôi là người dẫn chuyện. Còn 
trẻ là người nhập vai các nhân vật trong chuyện để trẻ hiểu được tính cách của 
từng nhân vật. Qua câu truyện giúp trẻ biết được trong rừng có 3 người bạn, mỗi 
bạn một ngôi nhà nhưng các bạn ấy chơi rất đoàn kết với nhau và đây cũng chính 
là giáo dục kỹ năng đoàn kết cho trẻ khi chơi cùng bạn. 
 Đây là hoạt động giúp trẻ phát triển trí nhớ, phát triển ngôn ngữ giao tiếp 
và giáo dục trẻ về tình cảm của con cái đối với cha mẹ, tinh thần đoàn kết. Qua 
hoạt động đóng kịch, trẻ dễ dàng nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Giúp 
trẻ hiểu sâu hơn về nội dung truyện và lời thoại của các nhân vật trong truyện. Để 
từ đó trẻ biết thể hiện những sắc thái khác nhau về giọng điệu, tính cách, tâm 
trạng của các nhân vật trong truyện. Qua đó không những giúp trẻ giúp trẻ phát 
triển ngôn ngữ mà còn giúp trẻ học được kỹ năng giao tiếp lễ phép, cảm ơn, xin 
lỗi , đoàn kết hợp chia sẻ một cách tốt nhất .
 Hình ảnh 4: Trẻ đóng kịch“ Thức dậy đi nào
 *Với hoạt động ngoài trời tôi đã lòng ghếp kỹ năng giao tiếp, hợp tác chia 
sẻ, đoàn kết, đây là một trong những hoạt động vui chơi mà trẻ hứng thú nhất, 
mang lại cho trẻ nhiều niềm vui và kiến thức cần thiết về thế giới xung quanh 
chúng. Trẻ nhận thức thế giới xung quanh bằng cách tiếp xúc, tìm hiểu, khám 
phá và quan tâm đến những gì xảy ra ở cuộc sống xung quanh mình. Hoạt động 
vui chơi ngoài trời tạo cho trẻ sự nhanh nhẹn và thích ứng với môi trường tự 
nhiên nó giúp trẻ mạnh dạn và tự tin hơn trong cuộc sống. Đặc biệt là những 
phần chơi tự do với đó chơi ngoài trời trẻ được giao tiếp với nhau thoả thận với 
nhau chơi biết đoàn kết, nhường nhau cùng chơi.
 VD: Khi tôi cho trẻ ra hoạt động ngoài trời, Các cháu chưa có kỹ năng chơi 
đồ chơi ngoài trời như chơi cầu trượt, qua cầu khỉ... các con thường xuyên chen 
lấn, xô đẩy nhau. Qua quan sát hàng ngày tôi đã đến bên trẻ nhẹ nhàng nhắc nhở 
các con. Các con chơi phải xếp hàng từng bạn lên chơi đến lượt bạn nào, bạn đấy 
lên. Nếu các con chen lấn xô đẩy nhau như vậy rất dễ bị ngã và mất đoàn kết, để 
buổi chơi diễn ra thật vui vẻ đoàn kết các con cùng nhau xếp hàng để ra sân chơi. 
Từ đó hàng ngày tôi rèn kỹ năng xếp hàng khi ra hoạt động ngoài trời và đến giờ 
 11 chơi ngoài trời trẻ có kỹ năng xếp hàng chờ đến lượt này đã hình thành cho trẻ kỹ 
năng bết chờ đến lượt.
 Hình ảnh 5: Trẻ xếp hàng ra sân chơi đồ chơi ngoài trời 
 Sau khi thực hiện theo biện pháp tôi đưa ra để dạy trẻ các kỹ năng sống bản 
thân tôi là người luôn lắng nghe và luôn thấu hiểu tâm tư của trẻ cần gì, thích gì? 
để tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện kỹ năng sống qua các hoạt động chơi để trẻ tự 
tin giao tiếp thành thạo, biết chia sẻ đồ chơi với bạn bè,biết nhường nhau, biết 
chờ đến lượt, biết lấy cất đồ chơi gọn gàng. Trong các hoạt động vui chơi này nó 
như một xã hội thu nhỏ để trẻ được trải nghiệm và thực hành những kỹ năng sống 
đó ngay tại trường lớp của mình.
 Như vậy qua một năm tôi đã áp dụng biện pháp này tôi thấy trẻ của lớp tiến 
bộ rõ ràng so với đầu năm như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng xếp hàng, kỹ năng 
quan sát, giáo tiếp thỏ thuận hợp tác chia sẻ .
 Hình ảnh 6: Trẻ thỏa thuận đoàn kết chơi cùng nhau vui vẻ
 *Ở hoạt động góc: Để giúp trẻ có kỹ năng chơi với các bạn khác tôi tạo 
môi trường cho trẻ giao tiếp với nhau và tạo tình huống cho trẻ tự giải quyết. Và 
tôi đưa ra “tiêu chí 1,2 biết hợp tác, chia sẻ không tranh giành đồ chơi với bạn, 
biết nhường đồ chơi cho bạn, đoàn kết giúp đỡ các bạn”. 
Với góc đóng vai khi các bạn tranh nhau đóng vai làm đầu bếp, tôi lại gần hỏi hai 
con đang chơi đóng vai gì thế? Bạn nào là bếp trưởng? Bạn nào đi chợ mua đồ? 
Cô giải thích cho hai bạn hiểu cách chơi . 
 Khi trẻ chơi ở góc nấu ăn các con chơi còn chưa biết bố trí sông nồi, bát 
đũa và bếp ga cho gọn gàng. Mà còn lấy hết đồ xuống để lung tung trên bàn. Tôi 
đã rèn kỹ năng cho các con biết lấy đồ dùng sao cho ngăn nắp gọn gàng. Sau đó 
mới được nấu ăn. Khi nấu song các con phải biết sắp xếp giống như một mâm 
cơm hàng ngày bố mẹ các con thường nấu ở nhà cho chúng mình ăn “Tiêu chí 3 
biết cất đồ chơi đúng nơi quy đinh” , khi chơi xong phải cất đồ gọn gàng.Vì vậy 
trước khi đến giờ chơi tôi thường xuyên cho trẻ đọc bài thơ “Giờ chơi” và khi 
chơi xong tôi cho trẻ vừa đọc câu thơ sưu tầm về cất đồ chơi và giáo dục các cháu 
phải biết nhường nhịn, biết lấy cất đồ chơi đúng nơi quy định và nhau cùng chơi. 
 Hình ảnh 7: Trẻ cất đồ chơi gọn gàng đúng nơi quy định
 Giờ chơi đến rồi Bạn ơi hết giờ rồi 
 Cùng lấy đồ chơi Nhanh tay cất đồ chơi
 12 Chúng mình chơi nhé Nhẹ tay thôi bạn nhé
 Đoàn kết với nhau Cất đồ chơi đi nào!
 Không tranh đồ chơi
 Cô thấy cô thấy cô cười
 Cô khen đoàn kết.
VD: Ở góc bán hàng. Trẻ đóng vai người bán hàng và người mua hàng, trẻ chưa 
có thói quen xếp hàng để đến lượt mua hàng. Mà còn chen lấn, xô đẩy bạn, người 
bán thì chưa biết mời khách chưa niềm nở mời khách và người mua chưa biết hỏi 
người bán hàng mà cứ thế lấy hàng. Trong khi trẻ chơi tôi quan sát thấy trẻ chưa 
có kỹ năng vì vậy tôi thường xuyên rèn kỹ năng cho trẻ có thói quen biết xếp 
hàng, hỏi giá khi đi mua hàng và người bán hàng phải niềm nở mời khách mua 
hàng qua các câu đơn giản như: “Bác mua gì ạ, cái này bao nhiêu tiền bác ơi?, 
bán cho tôi một cái, hôm nay đông nên các bác xếp hàng đợi lần lượt ạ...”. Từ đó 
trẻ đã hình thành kỹ năng biết mời chào và biết xếp hàng chờ đến lượt, biết 
nhường nhịn bạn khi chơi.
 Hình ảnh 8 : Trẻ chơi góc bán hàng 
 Thông qua hoạt động nghệ thuật:Trẻ được hát múa, ca hát, biểu diễn cuối 
chủ đề, vẽ tranh Tôi sẽ kích thích trẻ bộc lộ những suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, 
khả năng tưởng tượng và sáng tạo của mình.
 Ví dụ: Trong tiết biểu diễn cuối chủ đề có những trẻ còn nhút nhát chưa tự 
tin lên thể hiện trước đám đông, tôi quan sát những trẻ nhút nhát đó thấy rằng các 
con cũng rất thích hát múa nhưng chưa đủ tự tin còn e dè xấu hổ, rồi kèm cặp và 
động viện khích trẻ bằng mọi cách rồi dần dần đến cuối năm trẻ cũng đã mạnh 
dạn tự tin đứng trước sân khấu để biểu diễn. (tiêu chí 1)
 Hình ảnh 9: Trẻ biểu diễn văn nghệ
 Với góc thực hành trải nghiệm kỹ năng sống tôi cho trẻ thực hành thường 
xuyên cách cởi cúc, cài cúc, tập đánh rang, chải tóc, đội mũ bảo hiểm, cài dây mũ 
bảo hiểm, xúc hột hạt qua phễu hoặc từ bát này sang bát kia bằng thìa, vì sao nước 
chuyển màu 
Đây là cơ hội tốt nhất để thực hành giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy tôi đã 
thường xuyên tổ chức cho trẻ lao động lau dọn góc ngăn nắp gọn gàng sạch sẽ.
 Ở giờ ăn cũng vậy tôi cùng các giáo viên ở lớp dạy trẻ những kỹ năng trong 
ăn uống từ đấy các cháu: Biết kỹ năng cơ bản về ăn uống như chuẩn bị kê bàn ăn, 
 13 chia thìa theo số lượng của tổ mình và biết được khi ăn không được nói chuyện, 
ăn song phải biết xúc miệng nước muối và lau mặt. Ngoài ra trước những giờ ăn 
tôi thường lồng ghép các bài hát, bài thơ “Giờ ăn” do tôi tự sưu tầm, cho trẻ vừa 
đọc hơ vừa làm động tác theo lời thơ. Dạy lồng ghép kỹ năng vệ sinh và giờ ăn 
cho trẻ, từ đây tôi đã rèn cho trẻ thành thói quen trẻ thực hiện những kỹ năng này 
rất tốt.
 Đây là bát cơm nhỏ Ngồi ăn cho thật kỹ
 Đây là chiếc thìa xinh Ngồi ăn cho thật no
 Đây là miệng của mình Ai há miệng thật to
 Xúc cơm lên miệng nhé! Thì cơm không rơi vãi
 Hình ảnh 10: Trẻ có kỹ năng tự phục vụ rửa tay, rửa mặt.
 Với giờ ngủ và sau giờ ngủ dậy: Tôi dạy các con kỹ năng mặc, cởi, gấp 
quần áo, sắp xếp đồ dùng cá nhân gọn ngàng và tư thế nằm ngủ, cách chải tóc.
 Hay trong hoạt động chơi tự do vào buổi chiều hàng ngày ở lớp tôi cho trẻ 
chơi đồ chơi ở các góc hay chơi tự do thì tôi đều quan sát thật kỹ để xem các co 
đã biết phối hợp chơi cùng nhau chưa? Biết chia sẻ đồ chơi với bạn không, biết 
nhường bạn đoàn kết cùng chơi không để từ đó cô có hướng rèn kỹ năng cho các 
con.
 Ví dụ : Khi chơi tự do trẻ tự lấy đồ và tự hợp tác trao đổi cách chơi với 
nhau như tự nhặt đồ chơi xếp làm bàn bán hàng, chơi ròng rắn lên mây, hay mèo 
đuổi chuột tùy trẻ lựa chọn và chơi với nhau cô là người giám sát trẻ chơi.
 Hình 11: trẻ chơi tự do, giao tiếp tự do với bạn
 Như vậy sau khi đưa biện pháp này vào giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 
tuổi dân tôc thiểu số thông qua các hoạt động hàng ngày theo 4 tiêu chí tôi đưa ra 
trẻ đã nắm được và thực hiện tốt các kỹ năng sống đó, trẻ hứng thú và có tiến bộ 
rõ rệt. 
 Đây là những kỹ năng đơn giản tự phục vụ khi còn nhỏ giúp trẻ chủ động, 
độc lập trong mọi công việc hiện tại và sau này, bản thân tôi cũng cảm thấy rất 
phấn khởi tự tin trước sự tiến bộ đó của trẻ.
2.3. Biện pháp 3: Dạy kỹ năng phòng tránh cháy nổ và kỹ năng khi gặp người 
lạ mặt bắt cóc. 
 14 Trước đây tôi chưa để ý nhiều đến việc giáo dục kỹ năng phòng tránh cháy 
nổ và kỹ năng gặp người lạ mặt do tỷ lệ xảy ra cháy nổ và nạn bắt cóc trẻ em rất 
ít, nhưng một số năm gần đây với cuộc sống hiện tại thì tôi thấy hiện tượng cháy 
nổ và tệ nạn bắt cóc trẻ em xảy ra khá là nhiều nhất là với miền núi khả năng nhận 
thức thấp, thật thà rất dễ bị lừa bắt cóc. 
Ngày nay với cuộc sống hiện đại thì các gia đình, các cơ quan trường học đều sử 
dụng đồ điện nên khả năng chập điện gây ra cháy nổ rất dễ xảy ra. Đối mặt với 
nguy cơ nguy hiểm này tôi nhận thấy trang bị cho trẻ những kỹ năng cơ bản về 
thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn cháy nổ và kỹ năng phòng tránh khi gặp người lạ 
bắt cóc là rất cần thiết. Tôi đã đưa đưa ra tiêu chí 4 phòng tranh cháy nổ, bắt cóc 
và thoát khi bị hỏa hoạn hay gặp người lạ lừa cho kẹo bánh rồi bắt cóc.
Để trang bị cho trẻ những kỹ năng đó thì tôi đã không ngừng học hỏi, tìm hiểu tài 
liệu, và cập nhập những kiến thức mới nhất để hướng dẫn trẻ cách thực hành 
những kỹ năng đó vào hoạt động buổi chiều đồng thời giáo dục trẻ tăng cường ý 
thức cá nhân nhận thức được tầm quan trọng của việc tự bảo vệ mình trong các 
tình huống khẩn cấp. 
 Tôi đã cung cấp cho trẻ kỹ năng khi gặp cháy nổ, bằng cách thật bình tĩnh 
việc đầu tiên là các con kêu cứu thật, sau đó tìm khăn bịt vào mũi tránh hít sặc 
khói, nếu chưa có người đến cứu phải tìm cách thoát hiểm bằng cách dùng khăn 
hoặc vải gì bịt vào mũi, mồm và bò thấp để thoát ra ngoài. Với kỹ năng này ở 
trường mầm non chưa được chú trọng nên tôi đã mạnh dạn kết hợp vào một số 
hoạt động học ở lớp để dạy kỹ năng phòng chống chữa cháy vào để dạy nếu không 
may có cháy nổ xảy ra thì trẻ có kỹ năng phòng tránh cháy nổ thoát hiểm ra ngoài. 
 Hình ảnh 12:Trẻ có kỹ năng thoát hiểm khi cháy nổ xảy ra
 Như chúng ta đã biết trong cuộc sống hàng ngày cần có rất nhiều kỹ năng 
sống, ngoài các kỹ năng sống, kỹ năng phòng tránh cháy nổ thì hiện nay xã hội 
còn có rất nhiều những tệ nạn khác nhau trong đó có nạn bắt cóc buôn bán trẻ em 
.Vì vậy để có những kỹ năng bảo vệ bản thân ngay từ nhỏ thì ngay ở lứa tuổi 
trường mầm non ngay tại lớp 3 tuổi mà tôi đang phụ trách, tôi đã đưa ra những 
tình huống khi được người lạ mặt cho quà hay dủ đi chơi các con phải biết xử lý 
như thế nào? Để giáo dục cho các con kỹ năng tự bảo vệ mình khi gặp nguy hiểm 
Tôi và 2 đồng chí trong lớp giáo dục các con không được đi theo người lạ mặt đó 
dưới hình thức: Các cô đóng làm kẻ lạ mặt đẻ dụ dỗ cácc con, và đưa ra các tình 
 15 huống cho bánh kẹo, dủ đi chơi các con có đi không? Và các kỹ năng tự bảo vệ 
như“ Cứu, bắt cóc. Cứu, bắt cóc”. Tôi sẽ cúng cấp cho các con một số kỹ năng 
bám dính, đấm đạp, kêu cứu khi bị bắt cóc. Ngoài những kỹ năng đó tôi gáo dục 
thêm cho trẻ kỹ năng khi bị thất lạc bằng tình huống giả định như: Nếu được bố 
mẹ đưa đi ở công viên hay bãi biển thì các con hãy bình tĩnh ở lại nguyên chỗ 
chơi không chạy đi tìm bố mẹ, không kêu gào khóc to vì sẽ gây sự chú của nhiều 
người trong có cả kẻ xấu
 Hình ảnh 13: Trẻ có kỹ năng xử lý khi gặp người lạ bắt cóc
 Sau một năm áp dụng thực hiện biện pháp này. Tôi thấy các cháu ở lớp có 
những kỹ năng biết xử lý khi gặp cháy nổ và khi gặp người lạ. Bản thân tôi rất 
vui mừng khi thấy trẻ học được kỹ năng tự bảo vệ cho bản thân. 
2.4. Biện pháp 4. Chú ý đặc điểm riêng và kết hợp với phụ huynh cùng giáo 
dục kỹ năng sống cho trẻ.
 Trước đây việc chú ý đến đặc điểm riêng của trẻ còn chưa được sát sao, do 
đó trẻ chưa được mạnh dạn tham gia trong các hoạt động dẫn đến hiệu quả giáo 
dục một số kỹ năng còn thấp cũng một phần do trẻ dân tộc thiểu số thường phải 
đối mặt với những thách thức và khó khăn đặc biệt trong việc tiếp cận giáo dục 
và phát triển kỹ năng sống do điều kiện còn hạn chế làm cho việc tiếp cận và 
tham gia giáo dục kỹ năng sống trở nên khó khăn hơn.Trẻ dân tộc thiểu số 
thường phải đối mặt với nhiều áp lực xã hội và văn hóa, ảnh hưởng đến sự phát 
triển kỹ năng sống, việc phải thích nghi với môi trường mới, giữ gìn bản sắc văn 
hóa, cần sự hỗ trợ đặc biệt về cơ sở hạ tầng giáo dục, tài nguyên giáo dục cho 
trẻ dân tộc thiểu số. Vì vậy cần tạo môi ra một môi trường học tập an toàn và 
thân thiện, nơi trẻ dân tộc thiểu số có thể phát triển kỹ năng sống mà không sợ 
hãi.
Ngày nay tôi tôi nhận thức được để cho trẻ tiến bộ hài hòa cần tăng cường sự 
hợp tác giữa giáo viên, phụ huynh, để đảm bảo trẻ dân tộc thiểu số được tiếp 
cận đầy đủ các cơ hội phát triển kỹ năng sống, cùng phối hợp chăm sóc những 
trẻ có đặc điểm riêng. vì mỗi trẻ có một tính cách, một hoàn cảnh sống riêng 
biệt, tính cách, hoàn cảnh ấy nó tác động trực tiếp đến sự phát triển tâm lý của 
mỗi trẻ, khiến cho trẻ này nhanh nhẹn hiếu động, trẻ kia lại chậm chạp nhút 
nhát .Vì vậy trong quá trình giáo dục trẻ tôi rất chú ý đến đặc điểm của từng trẻ 
như cháu Nhi thì nhút nhát do bố, mẹ mải bươn trải kiếm tiền cho con đến học, 
 16 Ngân thì ăn nói chưa lễ phép do bố mẹ ly hôn, cháu Yến thì rất nhát để có biện 
pháp giáo dục phù hợp, thì tôi kết hợp với phụ huynh bằng cách gặp gỡ ông, bà, 
mẹ cháu để trao đổi việc uốn nắn ngay và kịp thời để các con tiến bộ hơn. 
 Để rèn kỹ năng cho những trẻ nhút nhát dụt dè,từng tháng, từng tuần, từng 
ngày khi tổ chức các hoạt động chơi tôi lưu ý đến kỹ năng của từng cháu. tôi 
khuyến khích cháu tham gia, động viên khen ngợi kịp thời để cháu tự tin hơn, 
mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động giúp cháu nhanh hoà nhập với các 
bạn trong nhóm trong lớp, đồng thời tôi còn động viên khích lệ nêu gương để 
trẻ có tự tin và có động lực qua giờ nêu gương cuối ngày cắm cờ. Như vậy sau 
một quá trình rèn luyện sát sao cùng các con thì cuối cùng các con đã mạnh dạn 
tự tin tham ra các họat động, tiến bộ trông thấy so với thời gian đầu năm các con 
nhút nhát dụt dè khóc nhè vậy mà sau một thời gian các con đã mạnh dạn lên 
sân khấu biểu, trẻ mạnh dạn tham gia biểu diễn, cô cảm thấy rất vui mừng 
 Khi phối hợp với phụ huynh cứ mỗi ngày các con đến lớp cô lại trao đổi 
với phụ huynh về tình hình của con và nhắc con chào cô chào bố mẹ ngay lúc 
đó và cứ như vậy dần tạo thành thói quen hết nhút nhát trở nên lễ phép chào hỏi. 
Để sự phối hợp giữa phụ huynh và giáo viên tốt hơn bằng trong việc giáo dục 
kỹ năng sống cho trẻ: Tôi mời phụ huyh đến dự giờ hoạt động kỹ năng sống, 
hoạt động trải nghiệm và gửi video qua nhóm zalo của lớp trên trang website 
của nhà trường một số kỹ năng để nhờ phụ cho con xem và làm theo kỹ năng, 
để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc gió dục kỹ năng sống cho con 
em mình, từ đó phụ huynh quan tâm chú đến kỹ năng sống nhiều hơn cho con.
 Hình ảnh 14: nhóm ZALO lớp
Cuối tháng, tôi đều đánh giá và ghi rất cụ thể những kỹ năng của trẻ đã làm 
được ở góc cha mẹ cần biết để phụ huynh nắm bắt. Qua thời gian rèn luyện trẻ 
lớp tôi có nhiều tiến bộ rõ rệt như mạnh dạn, lịch sự trong giao tiếp, xưng hô lễ 
phép thân thiện.
 Hình ảnh 15: Trẻ tự tin biểu văn nghệ minh chứng cho biện pháp 
 Sau khi áp dụng biện pháp Chú ý đặc điểm riêng và kết hợp với phụ 
huynh cùng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Tôi thấy phụ huynh chú trọng hơn 
phối hợp với cô đã thu được kết quả rất cao so với đầu năm.
 17 Như vậy qua việc chú ý đến đặc điểm riêng của trẻ và kết hợp với phụ 
huynh tôi thấy trẻ có sự tiến bộ rõ rệt, các con mạnh dạn tự tin về một số kỹ năng 
sống.
 2.5. Biện pháp 5: Tận dụng lợi thế là giáo viên bản địa để giáo dục kỹ năng 
sống cho trẻ.
Là người giáo viên bản địa trước kia tôi đã chú trọng về kỹ năng sống cho trẻ 
nhưng chưa đạt hiệu quả cao do tôi chưa có kinh nghiệm nhiều trong giáo dục 
kỹ năng sống xong tôi nhận thấy với tình hình cuộc sống xã hội phát triển như 
hiện nay nếu không chung tay vào giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ kịp thời 
sẽ làm ảnh hưởng đến tương lai sau này của trẻ nên tôi đã quyết tâm tìm hiểu 
thêm về việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Tôi hiểu sâu sắc về văn hóa, phong 
tục, tập quán của cộng đồng. Sử dụng thành thạo ngôn ngữ bản địa, giúp trẻ dễ 
dàng tiếp nhận và giao tiếp, dựa trên hiểu biết về văn hóa, truyền thống của dân 
tộc, tôi có thể xây dựng nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp bằng cách tích 
hợp các hoạt động, trò chơi truyền thống vào quá trình dạy học. Để làm tốt điều 
đó trước hết cô giáo là tấm gương sáng ở trường cô giáo là người mẹ thứ hai 
đối với trẻ. Trẻ rất thích được cô yêu thương, vỗ về gần gũi. Mọi hành động cử 
chỉ của cô trẻ rất lưu tâm và bắt chước theo.
Vì vậy cô phải luôn luôn chuẩn mực trong mọi lĩnh vực: Như cách giao tiếp với 
phụ huynh, với trẻ hay tác phong của cô, hành động cử chỉ của cô Tôi luôn ân 
cần dịu dàng thương yêu trẻ, luôn tạo mối thân thiện giữa cô và trẻ. Cô là tấm 
gương cho trẻ thực hiện và noi theo.
Ví dụ: Khi dạy trẻ nói lời cám ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác 
hoặc khi người khác làm một điều gì đó cho mình. Nhưng trong mối quan hệ 
giữa các cô giáo và giữa cô với trẻ, người lớn không nói cám ơn thì trẻ sẽ không 
hình thành ý thức của việc nên cám ơn người khác.
Vì vậy tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thực hành kỹ năng sống gắn với cuộc 
sống của trẻ. Tạo môi trường học tập thân thiện, tin cậy với trẻ, tạo môi trường 
gần gũi, ấm áp, không khí học tập thoải mái.
Đối với trẻ em dân tộc thiểu số thì phương pháp giảng dạy đa dạng: Để phù hợp 
với nhu cầu và phong tục của các dân tộc thiểu số, giáo viên cần sử dụng kết 
hợp giữa giáo dục truyền thống và phương pháp hiện đại.
Tạo môi trường học tập tích cực giúp trẻ cảm thấy thoải mái và hứng thú học 
hỏi. Việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh liên quan đến văn hóa địa phương có 
thể tạo ra một môi trường học tập tích cực hơn. Trẻ 3 tuổi thuộc dân tộc thiểu số 
cần được giáo dục về văn hóa, truyền thống và lịch sử của dân tộc mình để họ 
 18 hiểu rõ về bản sắc văn hóa của mình. Việc kết hợp thể dục và hoạt động ngoài 
trời vào chương trình giáo dục giúp trẻ phát triển kỹ năng sống như kỹ năng 
giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề.
Việc phát triển kỹ năng giao tiếp là một phần quan trọng trong việc giáo dục kỹ 
năng sống cho trẻ 3 tuổi thuộc dân tộc thiểu số, bao gồm cả kỹ năng nghe nói 
đọc viết cũng như kỹ năng giao tiếp xã hội.Trẻ 3 tuổi cần được giáo dục về tình 
cảm xã hội như lòng trắc ẩn, tôn trọng người khác và giải quyết mâu thuẫn hòa 
bình để họ trở thành người lớn có trách nhiệm trong cộng đồng Và việc giới 
thiệu trẻ đến công nghệ phù hợp với độ tuổi.
Khuyến khích, động viên trẻ tham gia các hoạt động, phát huy tính chủ động, 
sáng tạo. Kết nối gia đình, tổ chức các hoạt động giao lưu, trải nghiệm văn hóa 
giữa nhà trường với phụ huynh như phụ huynh cùng tham gia tiệc buffet, vui 
trung thu...
 Hình ảnh 16: phụ huynh cùng tham gia chải nghiêm buffet với con
Với những lợi thế quan trọng này của giáo viên bản địa là nhân tố then chốt, 
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu 
số.
 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 
3.1. Đối với giáo viên
 Bản thân tôi có thêm kiến thức và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong việc 
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, được phụ huynh tin tưởng phối hợp cùng cô trong 
các hoạt động, tạo động lực cho cô yêu nghề, mến trẻ hơn.
3.2. Đối với Phụ huynh
Phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống cho con em mình 
và họ sẵn sàng phối hợp với cô giáo để nuôi dạy các con. 
3.3. Đối với trẻ: 
 Sau một năm nghiên cứu, áp dụng “một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống 
cho trẻ 3 tuổi dân tộc thiểu số” nơi tôi công tác tôi thấy trẻ đã có sự khác biệt rõ 
ràng, đầu năm trước khi chưa biện pháp vào thực hiện thì các kỹ năng sống của 
trẻ còn hạn chế, tỷ lệ trẻ đạt là rất thấp nhưng sau khi áp dụng một số biện pháp 
vào thực hiện thì trẻ có sự tiến bộ rõ rệt, trẻ không sợ sệt, không nhút nhát nữa 
ngược lại trẻ mạnh dạn, tự tin, thực hiện tốt các kỹ năng, đây là điều làm tôi cảm 
 19 thấy vui phấn khởi giúp tôi thấy yêu nghề hơn, mến trẻ hơn, cụ thể được thể hiện 
 qua bảng khảo sát kết quả đầu năm và cuối năm dưới đây:
 Bảng 2 kết quả khảo sát so sánh đối trứng đầu năm và cuối năm.
 Cuối năm (sau khi áp dụng 
 Đầu năm (trước khi áp dụng biện pháp)
 biện pháp)
 Số trẻ 
 Nội dung tiêu 
 khảo Mức độ đạt được Mức độ đạt được
 trí khảo sát
 sát
 Chưa Chưa %
 Đạt % Đạt %
 23 đạt % đạt
 1.Kỹ năng: 
 9 14 
Giao tiếp, hợp 23 39,1% 60,9% 19 4
 83% 17%
 tác, chia sẻ 
2. Kỹ năng: Lễ 
 giáo chào hỏi 10 13 
 23 43,5%
 56,5% 22 96 % 1 4 %
3. Kỹ năng: Tự 
 phục vụ cất 
 15 3
 dọn, đồ dùng, 23 8 34,8% 65,2% 20 87% 13%
 đồ chơi đúng 
 nơi quy định
 4. Kỹ năng: 
 Bảo vệ bản 
 thân phòng 
 tránh thoát 23 7 30,5% 16 69,5 % 19 83% 6 17 %
 hiểm khi bị 
hỏa hoạn cháy 
hoặc bị bắt cóc
 Nhìn vào bảng so sánh kết quả đầu năm và cuối năm cho ta thấy rằng qua một 
 năm thực hiện biện một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 tuổi dân 
 tộc thiểu số” được nâng cao một cách rõ rệt về việc hình thành cho trẻ những kỹ 
 năng sống theo các tiêu chí tăng từ 43,9% đến 52,5% so với đầu năm cụ thể là: 
 20

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_giao_duc_ky_nang_so.docx