Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non

pdf 27 trang vietcuong 02/04/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 
 Kính gửi: Hội đồng đánh giá sáng kiến kinh nghiệm năm học 2024-2025 
 Ngày Trình độ 
 Chức 
 Họ và tên tháng Nơi công tác chuyên Tên sáng kiến 
 danh 
 năm sinh môn 
 Nhân Một số biện pháp nâng 
 Dương Thị Trường mầm viên Cao cao chất lượng bữa ăn 
 3/08/1989 
 Oanh non Ba Vì nuôi Đẳng cho trẻ ở trường mầm 
 dưỡng non 
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chăm sóc nuôi dưỡng 
 - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số biện pháp nâng cao chất lượng 
bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non 
 - Ngày sáng kiến được áp dụng thử: Từ ngày 10 tháng 09 năm 2024 tại 
trường mầm non tôi đang công tác. 
 - Mô tả bản chất của sáng kiến: 
 Sức khoẻ là yếu tố không thể thiếu của con người, để thế hệ trẻ được khoẻ 
mạnh, thông minh, sáng tạo, có thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước 
trong giai đoạn hiện nay, việc nuôi dạy trẻ là yêu cầu rất lớn. Có thể nói: “Sức 
khoẻ trẻ em hôm nay là sự phồn vinh của đất nước ngày mai”, sức khoẻ ảnh hưởng 
đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, là yếu tố quyết định đến sự phát triển của trẻ sau 
này. 
 Như chúng ta đã biết, chế độ dinh dưỡng hợp lý là một trong những yếu tố 
quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển toàn diện của trẻ lứa tuổi mầm non. 
Bởi vì, trẻ ở lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh về thể lực, trí tuệ, nếu trẻ được 
chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật. 
Đối với lứa tuổi này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tính theo lượng cơ thể cao 
hơn so với người lớn, mặt khác do sức ăn của trẻ có hạn, bộ máy tiêu hóa, 
chức năng tiêu hóa hấp thụ chưa hoàn chỉnh, khả năng miễn dịch của trẻ 
còn hạn chế. Vì thế các thiếu sót trong nuôi dưỡng và chăm sóc đều có thể 
dẫn đến các bệnh về dinh dưỡng đối với trẻ. Việc quan tâm đến chất lượng bữa ăn 
của trẻ là việc làm cần thiết, bữa ăn của trẻ phải đủ về số lượng và cân đối về chất 
lượng theo từng độ tuổi, giúp trẻ phát triển toàn diện, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng 
trẻ em.Vì vậy việc nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng- 
thấp còi, thừa cân- béo phì cho trẻ phải luôn luôn được quan tâm chú trọng trong 
các trường mầm non.Do đó tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp 
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non 
 2 
 Sáng kiến của tôi mang tính mới, không trùng với sáng kiến của các năm 
học trước. Được thực hiện thông qua một số biện pháp sau: 
 + Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng kiến thức nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn 
 + Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn theo mùa một cách linh hoạt đảm bảo 
dinh dưỡng cho trẻ. 
 + Giải pháp 3: Nắm vững yêu cầu thực hiện để đảm bảo an toàn và lựa chọn 
thực phẩm tươi ngon. 
 + Giải pháp 4: Làm tốt công tác phối hợp với giáo viên và phụ huynh 
 - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không 
 - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 
 + Về phía nhân viên nuôi dưỡng: Có sức khoẻ tốt, có phẩm chất đạo đức 
tốt và đặc biệt là phải có kỹ năng xây dựng thực đơn và chế biến các món ăn 
 + Về phía trẻ: Trẻ khỏe mạnh, đi học đều, đầy đủ. 
 + Về phía phụ huynh: Phối kết hợp cùng nhà trường trong việc chăm sóc, 
giáo dục trẻ. Quan tâm tới tình hình học tập của con 
 + Về phía nhà trường: N hà trường tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các 
lớp học tập, nghiên cứu. Đảm bảo về cơ sở vật chất . 
 + Điều kiện về thời gian: Cần có thời gian nghiên cứu và áp dụng các giải 
pháp một cách linh hoạt và chính xác nhất. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tác giả: 
 + Hiệu quả về kinh tế. 
 Các biện pháp dễ áp dụng, ít tốn kém, có thể tận dụng các thực phẩm theo 
mùa sẵn có ở địa phương để nấu và thay đổi thực đơn cho trẻ. Giảm thiểu việc 
mua các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc và giá thành cao. Đề tài chỉ ra các 
biện pháp để ứng dụng nâng cao chất lượng bữa ăn, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng 
vào hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ một cách hiệu quả, giảm bớt kinh phí cho 
nhà trường. 
 Đối với phụ huynh: không phải mất thời gian điều trị trẻ suy dinh dưỡng 
không phải mua các loại thuốc, sữa dinh dưỡng đắt tiền, tiết kiệm được kinh tế. 
 Đối với nhà trường: có nhiều giải pháp trong công tác chăm sóc trẻ suy 
dinh dưỡng, phụ huynh yên tâm công tác gửi con cho nhà trường. 
 + Hiệu quả về xã hội 
 Hiệu quả về mặt xã hội trực tiếp giúp nhân viên nuôi dưỡng bổ sung và 
nâng cao kiến thức, tay nghề nấu ăn cũng như hiệu quả, chất lượng bữa ăn cho trẻ 
mầm non. Giúp nhân viên nắm chắc định lượng quy đổi thực phẩm khẩu phần ăn 
của trẻ. Biết kết hợp cùng giáo viên làm tốt công tác phòng chống cho trẻ suy dinh 
dưỡng. Có thêm kỹ năng chế biến món ăn, cách lựa chọn thực phẩm, nắm chắc 3 
đinh lượng khẩu phần ăn của trẻ. Góp phần nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ 
nhân viên. 
 Tạo được niềm tin của phụ huynh và cộng đồng đối với nhà trường. Tạo 
nên sự gắn kết chia sẻ giữa nhân viên nuôi dưỡng với phụ huynh và giáo viên. 
Hiểu được công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường. Đặc biệt là chăm sóc những 
trẻ suy dinh dưỡng. Tin tưởng vào chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, số trẻ ra 
lớp ngày càng tăng. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc 
áp dụng thử nếu có: 
 Đối với nhà trường: Nhà trường thu hút được sự quan tâm của phụ huynh, 
của các cấp lãnh đạo, nâng cao được chất lượng nuôi dưỡng trẻ mầm non tại 
trường. 
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật 
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. 
 Ba Vì, ngày 20 tháng 03 năm 2025 
 Người nộp đơn 
 (Ký và ghi rõ họ tên) 
 Dương Thị Oanh 
 4 
 PHẦN THỨ NHẤT. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 
 Sức khoẻ là yếu tố không thể thiếu của con người, để thế hệ trẻ được khoẻ 
mạnh, thông minh, sáng tạo, có thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước 
trong giai đoạn hiện nay, việc nuôi dạy trẻ là yêu cầu rất lớn. Có thể nói: “Sức 
khoẻ trẻ em hôm nay là sự phồn vinh của đất nước ngày mai”, sức khoẻ ảnh hưởng 
đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, là yếu tố quyết định đến sự phát triển của trẻ sau 
này. 
 Như chúng ta đã biết, chế độ dinh dưỡng hợp lý là một trong những yếu tố 
quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển toàn diện của trẻ lứa tuổi mầm non. 
Bởi vì, trẻ ở lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh về thể lực, trí tuệ, nếu trẻ được 
chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật. 
Đối với lứa tuổi này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tính theo lượng cơ thể cao 
hơn so với người lớn, mặt khác do sức ăn của trẻ có hạn, bộ máy tiêu hóa, 
chức năng tiêu hóa hấp thụ chưa hoàn chỉnh, khả năng miễn dịch của trẻ 
còn hạn chế. Vì thế các thiếu sót trong nuôi dưỡng và chăm sóc đều có thể 
dẫn đến các bệnh về dinh dưỡng đối với trẻ. 
 Trẻ lứa tuổi mầm non có thời gian ở trường với cô giáo từ 8-10 tiếng, do 
vậy chỉ gia đình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt vẫn chưa đủ mà các bữa ăn của trẻ 
ở trường cũng vô cùng quan trọng vì nhu cầu về năng lượng của trẻ ở trường 
chiếm 50- 70% tổng năng lượng/ ngày. Vì vậy, việc quan tâm đến chất lượng bữa 
ăn của trẻ là việc làm cần thiết, bữa ăn của trẻ phải đủ về số lượng và cân đối về 
chất lượng theo từng độ tuổi, giúp trẻ phát triển toàn diện, giảm tỷ lệ suy dinh 
dưỡng trẻ em. Ngoài việc ăn uống đủ chất, đủ lượng còn phải chú ý đến vấn đề vệ 
sinh an toàn thực phẩm. Bởi việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn 
đề cần phải quan tâm nhất là trong các trường mầm non. Vì trẻ còn nhỏ cơ thể trẻ 
còn non yếu nếu để xẩy ra ngộ độc thức ăn không những ảnh hưởng đến sức khoẻ 
mà còn ảnh hưởng đến tinh thần và trí tuệ sau này của trẻ. Vì vậy việc nâng cao 
chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng- thấp còi, thừa cân- béo phì 
cho trẻ phải luôn luôn được quan tâm chú trọng trong các trường mầm non. 
 Trong những năm công tác tại trường mầm non với nhiệm vụ là một nhân 
viên nuôi dưỡng tôi nhận thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng chiều cao cân năng, trẻ béo 
phì trong trường mầm non tuy đã giảm song vẫn còn cao so với quy định. Kiến 
thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ chưa có sự đổi mới, nhân viên nuôi dưỡng 
chưa hiểu sâu về ý nghĩa của việc phòng chống suy dinh dưỡng đối với sự phát 
triển của trẻ. Chính vì vậy, tôi luôn trăn trở và băn khoăn, làm thế nào để tìm ra 5 
những biện pháp để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, 
béo phì cho trẻ trong trườngmầm non, giúp các bé luôn được khỏe mạnh cả về thể 
chất lẫn tinh thần. Chính vì những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số 
biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non”. 
 II. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. 
 Nhằm góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống, giảm tỷ lệ trẻ 
bị suy dinh dưỡng. Giúp cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, 
thẩm mỹ. 
 Giúp cho đội ngũ giáo viên, nhân viên nắm được nội dung giáo dục 
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non. 
 Tìm ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng bữa ăn dinh dưỡng hợp lý 
phù hợp với trẻ lứa tuổi mầm non và phòng chống suy dinh dưỡng 
cho trẻ ở trường mầm non. 
 Giúp giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng làm tốt công tác chăm sóc nuôi 
dưỡng trẻ. Trang bị thêm kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt hơn, 
hiểu sâu hơn về ý nghĩa của việc phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì đối với sự 
phát triển của trẻ. Trên cơ sở đó biết cách xây dựng kế hoạch, chăm sóc nuôi 
dưỡng trẻ, tự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng trẻ 
trong trường mầm non. 
 Bổ sung thêm những kiến thức mới về nuôi dạy con khoa học, nâng cao 
nhận thức về bữa ăn dinh dưỡng đảm bảo cả về chất và lượng cho các bậc phụ 
huynh từ đó khi ở nhà các bậc cha mẹ học sinh có thể chế biến những món ăn 
ngon đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ. 
 III. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 - Thời gian nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 
4 năm 2025, củng cố và thực hiện áp dụng từ tháng 09 năm 2024 tới các năm tiếp 
theo. 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho 
trẻ ở trường mầm non. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Bếp ăn, nhân viên nuôi dưỡng, trẻ mầm non tại 
trường nơi tôi công tác. 
 6 
 PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 I. Hiện trạng vấn đề 
 1. Với nhà trường 
 - Trường mầm non nơi công tác là một trường miền núi với 95% là dân tộc 
Dao. Tuy nhà trường còn gặp nhiều khó khăn nhưng BGH nhà trường vẫn luôn 
chú trọng việc mua sắm trang thiết bị bán trú đầy đủ và mua bổ sung vào đầu năm 
học. 
 - Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của phòng Giáo dục và 
Đào tạo Ba Vì. 
 - Trường có 3 điểm trường cách xa nhau khoảng 12km nên việc vận chuyển 
thực phẩm, chia thực phẩm về khu lẻ còn gặp nhiều khó khăn và phức tạp, mất 
nhiều thời gian. 
 - Nhà trường có hợp đồng mua các loại thực phẩm của các công ty và nhà 
hàng tin cậy có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng, có giấy chứng nhận và cam kết về vệ 
sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý nên chất lượng bữa ăn được đảm bảo. 
Trường đã ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý khẩu phần ăn của trẻ 
thuận lợi cho việc tính định lượng khẩu phần ăn của trẻ hàng ngày. 
 - Bếp ăn sạch sẽ, thoáng mát được thiết kế xây dựng theo nguyên tắc bếp 
một chiều, thuận lợi cho việc chế biến thức ăn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực 
phẩm. Tuy nhiên diện tích bếp ăn chưa đủ để phục cho các khâu chế biến đến khi 
cho ra bữa ăn cho trẻ, vì vậy trong năm học 2024- 2025 nhà trường có kế hoạch 
sửa chữa, cải tạo lại trường lớp, bếp ăn cả 3 điểm trường. Trong thời gian sửa 
chữa, cải tạo lại bếp ăn của 3 điểm trường phải dựng tạm để nấu. Bởi vậy, nhân 
viên nuôi dưỡng gặp rất nhiều khó khăn trong việc chế biến bữa ăn cho trẻ đặc 
biệt là khi thời tiết mưa gió. 
 2. Với bản thân 
 - Bản thân tôi là cô nuôi có bằng cao đẳng kỹ thuật nấu ăn, và luôn có ý 
thức tự bồi dưỡng chuyên môn cho mình để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ. 
Tôi được khám sức khoẻ định kỳ hàng năm, đảm bảo đủ sức khoẻ công tác, không 
mắc các bệnh truyền nhiễm. 
 - Tôi luôn năng động, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn cố gắng 
trong việc chế biến món ăn cho trẻ, đặc biệt là rất đoàn kết và biết bảo ban, giúp 
đỡ đồng nghiệp trong công việc. Tuy nhiên như vậy chưa đủ tình trạng trẻ suy 
dinh dưỡng thấp còi ở trường vẫn còn, kỹ năng chế biến món ăn chưa phong phú, 
các món ăn chưa có sự sáng tạo, hấp dẫn trẻ vì vậy tôi đã học hỏi, nghiên cứu tài 
liệu, sách báo, internet và đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản 7 
thân, giúp trẻ ở trường mầm non nơi tôi công tác giảm tỷ lệ suy dnh dưỡng, thấp 
còi. 
 3. Với phụ huynh học sinh 
 - 95% phụ huynh học sinh là người dân tộc thiểu số, nhiều phụ huynh kinh 
tế khó khăn nên còn thờ ơ với việc chăm sóc giáo dục con, chiều chuộng con vì 
vậy việc chăm sóc bữa ăn dinh dưỡng cho trẻ chưa khoa học. Từ đó, dẫn đến việc 
một số trẻ phát triển thể chất chưa cân đối: Còn tình trạng trẻ suy dinh dưỡng, 
thấp còi, béo phì... 
 - Một số phụ huynh phải đi làm ăn xa, các con ở nhà với ông bà nên việc 
phối kết hợp trong quá trình chăm sóc giáo dục còn gặp nhiều khó khăn. 
 4. Với trẻ 
 - Trẻ ra lớp đúng độ tuổi và ăn bán trú tại trường 100%. 
 - Hằng năm trẻ được khám sức khỏe định kỳ 2 lần một năm. Trẻ từ 25-72 
tháng cân đo 3 tháng một lần, trẻ nhà trẻ dưới 24 tháng mỗi tháng cân đo một lần 
để theo dõi. 
 - Đa số trẻ lớp nhà trẻ, lớp mẫu giáo bé kén ăn, ăn chậm và có những trẻ 
được gia đình nuông chiều như mua quà bánh, bim bim, xúc xích cho trẻ ăn theo 
sở thích của trẻ, có gia đình thì xúc, bón cho trẻ ăn tuy đã học đến lớp 5 tuổi, có 
gia đình còn cho trẻ ăn rong. Từ các thực trạng trên dẫn đến kỹ năng tự phục vụ 
của trẻ còn kém, trẻ biếng ăn, lười ăn các món ăn khi đến lớp, dẫn đến việc các cô 
phải dành nhiều thời gian chăm sóc và cho trẻ ăn. Vì thế tình trạng suy dĩnh dưỡng, 
thấp còi vẫn xảy ra ở các lớp. 
 5. Bảng điều tra khảo sát trước khi thực hiện đề tài: 
 Trước khi thực hiện đề tài tôi đã tiến hành khảo sát với 175 trẻ tại trường để 
nắm được thực trạng về sức khoẻ của trẻ. Tôi đến các lớp quan sát trẻ ăn bữa chính 
bữa phụ xem trẻ ăn có ngon miệng hết xuất không? Tôi tìm ra nguyên nhân tại 
sao trẻ ăn chưa hết xuất của mình. Thực tế sau nhiều buổi khảo sát tôi nhận thấy 
trẻ có hứng thú đến giờ ăn xong một số trẻ ăn không ngon miệng còn bỏ dở, một 
số trẻ thì không ăn thức ăn... Bên canh đó một số trẻ ăn quá tiêu chuẩn dẫn đến 
việc béo phì thừa cân. Điều đó được thể hiện qua bảng khảo sát sau: 
 8 
 Bảng 1. Bảng khảo sát thực tế đầu năm trước khi thực hiện đề tài 
 STT Tiêu chí khảo sát Số trẻ KS Kết quả 
 Số lượng Tỷ lệ% 
 1 Trẻ suy dinh dưỡng thể 
 175 8 4,6 
 nhẹ cân 
 2 Trẻ suy dinh dưỡng thể 
 175 7 4,0 
 thấp còi 
 3 Trẻ suy dinh dưỡng thể 
 175 4 2,3 
 gầy còm 
 4 Trẻ thừa cân béo phì 175 4 2,3 
 Từ bảng khảo sát trên tôi nhận thấy: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 
và thấp còi chiếm 4-4,6% , trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm và trẻ béo phì có thấp 
hơn, song vẫn chiếm tỷ lệ 2,3%. 
 Tôi đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau: 
 - Đội ngũ cô nuôi trẻ mới vào nghề, kiến thức chuyên môn về chế biến món 
ăn cho trẻ còn hạn chế, kỹ thuật chế biến, kinh nghiệm tay nghề còn chưa cao. 
 - Tôi chưa chú trọng đến việc xây dựng thực đơn cho trẻ nên thực đơn chưa 
phong phú, chưa hấp dẫn trẻ. 
 - Tôi chưa nắm vững yêu cầu thực hiện, đảm bảo an toàn và lựa chọn thực 
phẩm tươi ngon. 
 - Tôi chưa chú trọng đến công tác phối hợp với giáo viên và phụ huynh 
giúp trẻ suy dinh dưỡng ăn ngon miệng, hết suất. 
 Đứng trước thực trạng trên tôi thực sự băn khoăn lo ngại về sự hiểu biết, kỹ 
năng chuyên môn nuôi dưỡng của mình. Từ đó tôi đã mạnh dạn học tập, tìm hiểu 
và đưa ra “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm 
non” như sau: 
 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 
 1. Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng kiến thức nâng cao kỹ thuật chế biến 
 món ăn 
 Tự bồi dưỡng kiến thức, đây là một hoạt động mang tính thường xuyên đòi 
hỏi bản thân mỗi chúng ta phải không ngừng học tập mỗi ngày, một hoạt động 
nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và cũng là khâu quan trọng nhất ảnh 
hưởng đến chất lượng bữa ăn. Bản thân tôi luôn ý thức tìm tòi, cải cách những 
món ăn giúp trẻ ăn ngon và hết suất. Tôi luôn tích cực tham gia các lớp tập huấn, 
các buổi kiến tập do phòng giáo dục và đào tạo, trung tâm y tế và nhà trường tổ 
chức. Bên cạnh đó tôi còn học hỏi từ đồng nghiệp, bạn bè trong trường và trường 
bạn, tôi chủ động tự tìm hiểu thêm qua sách, các trang mạng internet để trau dồi 9 
kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm cho bản thân qua một số kênh dạy nấu ăn như 
món ngon mỗi ngày, mẹ nấu ăn cho bé 
 Hình ảnh 01: Hình ảnh tôi tham gia buổi tập huấn cách xây dựng thực đơn 
tại trường mầm non Vạn Thắng và trường mầm non Khánh Thượng B. 
 Bên cạnh những kiến thức mình đã học hỏi được thì kỹ thuật chế biến món 
ăn cũng rất quan trọng, muốn trẻ ăn ngon miệng, hết xuất thì thức ăn phải có 
hương vị thơm ngon, hấp dẫn, thường xuyên thay đổi cách chế biến, trong quá 
trình chế biến phải biết cách phối hợp nguyên liệu hợp lý, nó đảm bảo cung cấp 
cho trẻ đủ năng lượng, đủ các chất dinh dưỡng theo một cơ cấu hợp lý giúp cơ thể 
điều hòa các chất tạo điều kiện thuận lợi cho việc hấp thụ thức ăn. Để làm được 
điều đó, bản thân luôn ý thức tìm tòi, cải cách những món ăn trông mới lạ giúp trẻ 
ăn ngon và hết suất bằng cách tìm tòi các kiểu nấu hấp dẫn trẻ hơn, chú trọng việc 
nấu hơn bằng cách tôi tự thực hành nấu ăn ở nhà cho đến khi nấu được ra món 
mình muốn làm từ đó nâng cao tay nghề, kỹ thuật chế biến món ăn của tôi trong 
trường mầm non. 
 Ngoài ra tôi còn tham gia hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp 
huyện đem đến hội thi là những món ăn thực tế hàng ngày của trẻ được tôi đưa 
vào chế biến một cách mới lạ, phong phú, những món ăn hấp dẫn này đã được 
BGH nhà trường đánh giá rất cao tôi đã đạt giải nhất hội thi nhân viên nuôi dưỡng 
giỏi cấp trường năm học 2024-2025 và được lựa chọn để đi thi cô nuôi giỏi cấp 
huyện năm học 2024-2025. Các món ăn được tôi kết hợp hài hòa giữa đạm động 
vật, đạm thực vật đảm bảo chất dinh dưỡng, màu sắc hấp dẫn, hương vị thơm ngon 
đạt cảm quan. Với yêu cầu nghề nghiệp, muốn phục vụ trẻ một cách tốt nhất thì 
các cô nuôi phải hiểu được tầm quan trọng của dinh dưỡng cần và đủ đối với trẻ 
trong từng độ tuổi, có được những kiến thức đó thì tôi mới mạnh dạn đưa ra những 
thực đơn phong phú, kết hợp nhiều loại thực phẩm với nhau cung cấp cho trẻ 
những món ăn mới, thơm ngon, bổ dưỡng phù hợp với lứa tuổi mầm non. Tại hội 
thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện năm học 2024-2025 tôi đã cố gắng và 
hoàn thành tốt nhiệm vụ của cô nuôi, tôi đã đạt được giải Ba trong hội thi. 
 Hình ảnh 02: Hình ảnh tham gia hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp 
huyện. 
 Sau một thời gian nỗ lực học tập, nâng cao kỹ năng, trình độ chuyên môn và 
tay nghề của bản thân, tôi đã được ban giám hiệu đánh giá rất cao thông qua các 
bữa ăn hằng ngày của trẻ ở trường và các cuộc thi cấp trường, cấp huyện. 
 Như vậy, có thể khẳng định rằng việc nhân viên chủ động đổi mới, Sáng tạo 
trong việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho bản thân là vô 10 
cùng quan trọng góp phần nâng cao kỹ năng, chất lượng cho nhân viên và chất 
lượng bữa ăn của trẻ cũng được nâng lên góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho 
trẻ ở trường mầm non. 
 2. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn theo mùa một cách linh hoạt đảm 
 bảo dinh dưỡng cho trẻ. 
 Trẻ trong độ tuổi mẫu giáo thường sẽ tiêu thụ nhiều calo hơn so với trẻ ở 
nhà bởi bé sẽ tham gia nhiều hoạt động vui chơi, học tập và ngoại khóa hơn ở nhà. 
Trẻ em ở độ tuổi mầm non cần được xây dựng một thực đơn dinh dưỡng khoa học 
và phù hợp để phát triển hoàn thiện. 
 Trong bữa ăn của trẻ hàng ngày, đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng. 
Mỗi bữa ăn không chỉ đủ các nhóm thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực 
phẩm nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Các món 
ăn cần phong phú về màu sắc, mùi vị, nấu ở nhiệt độ thích hợp. 
 Vì vây, việc xây dựng thực đơn rất quan trọng cần phải đảm bảo đúng định 
lượng, phù hợp với số tiền, trong thời gian dài nhất 1 tuần nhằm giúp cho việc 
điều hòa khối lượng thực phẩm và tổ chức công việc chế biến. Số bữa ăn và giá 
trị năng lượng của từng bữa dựa vào yêu cầu của từng độ tuổi. 
 Thực đơn khi xây dựng cần thay đổi theo mùa, theo tuần để kích thích sự 
biếng ăn của trẻ. Cùng với sự kết hợp hài hòa giữa các loại thực phẩm từ màu sắc 
đến chất lượng để giúp trẻ ăn ngon miệng. 
 Hiểu được việc xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non có tầm quan trọng như 
vậy. Nên tôi đã cùng tổ nuôi, kế toán,phụ trách chuyên môn, tham gia việc xây 
dựng thực đơn đảm bảo đủ yêu cầu sau: 
 Hình ảnh 03: Hình ảnh tổ nuôi họp cùng BGH, kế toán xây dựng thực đơn 
 Thứ nhất phải đảm bảo đủ lượng calo: Năng lượng được cung cấp chủ yếu 
từ bột đường (G), có nhiều ở trong các loại ngũ cốc, đường và chất béo (L). L có 
nhiều trong dầu mỡ và các loại hạt có tinh dầu. Khi xây dựng thực đơn ta nên chú 
ý kết hợp giữa hai loại thực phẩm nhiều calo và thực phẩm ít calo với nhau để 
đảm bảo lượng calo cần thiết cho trẻ một ngày. 
 Ví dụ: Bữa chính trưa 
 + Món ăn : Thịt gà , lợn om nấm 
 + Canh: Khoai tây, su hào nấu thịt. 
 Bữa chính chiều: xôi gấc, đậu xanhh 
 + Bữa phụ chiều: Sữa công thức 
 Vì món gà là có lượng calo thấp nên nhà trường kết hợp với món canh thập 
cẩm (khoai tây, su hào, cà rốt) vì loại củ, quả có tỷ lệ calo cao hơn 11 
 Thứ hai phải cân đối tỷ lệ giữa các chất: P - L – G: Protein (P) hết sức cần 
thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ là nguyên liệu chủ yếu để xây dựng lên các 
tố chất trong cơ thể trẻ (P) là chất dinh dưỡng quan trọng số một, được coi là yếu 
tạo nên sự sống, có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển cơ bản của 
hoạt động sống, là nguyên liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trên 
cơ thể, là thành phầm chính của các kháng thể giúp cơ thể chống lại các bệnh 
nhiễm khuẩn, thực hiện chức năng miễn dịch. chất đạm là nguồn cung cấp năng 
lượng, có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu, lạc vừng. 
 Lipid (L) là nguồn cung cấp năng lượng và các acid béo cần thiết, là dung 
môi hoà tan và là chất mang của các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, E, 
K giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin này, làm tăng cảm giác ngon miệng. 
Chất béo từ nguồn động vật: sữa mẹ, sữa, bơ, lòng đỏ trứng, có từ nguồn thực vật: 
vừng, lạc, đậu đỗ.... 
 Glucid (G) cung cấp năng lượng chủ yếu trong cơ thể, tạo đà tốt cho sự phát 
triển. Tham gia cấu tạo nên tế bào, các mô điều hoà hoạt động cơ thể, có nhiều 
trong gạo, bột mỳ, miến, đường, đậu, 
 Vitamin và khoáng chất là những chất dinh dưỡng rất cần thiết cho cơ thể. 
Tuy hàng ngày chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra tình trạng 
bệnh lý cho cơ thể. Vitamin tham gia vào hầu hết các quá trình hoạt động của cơ 
thể với vai trò chính điều hoà tăng trưởng, phát triển tế bào mô, miễn dịch, hệ thần 
kinh, nhìn, đông máu, bảo vệ cơ thể chống lão hoá. 
 Vì vậy, trong bữa ăn của trẻ hàng ngày ta cần phải đảm bảo đầy đủ các loại 
thực phẩm. Qua đó ta cần phải tính toán làm sao để cân đối giữa các chất: P - L - 
G theo tỷ lệ thích hợp của trẻ cụ thể là: Nhà trẻ: P: 13-20%; L:30-40%; G: 47-
50%, đạt 600-651 Kcalo. Mẫu giáo: P: 13-20%; L: 25-35%; G: 52-60%, đạt 615-
726 Kcalo, tỷ lệ Ca, B1 trong thực đơn bữa ăn của trẻ, nhu cầu Ca đối với trẻ từ 
1-3 tuổi 350mg/ngày/trẻ; MG 4-6 tuổi: 420mg/ngày/trẻ, nhu cầu B1 đối với trẻ từ 
1-3 tuổi 0.41mg/ngày/trẻ; MG 4-6 tuổi: 0.52mg/ngày/trẻ. 
 Thứ ba là thực đơn đa dạng phong phú, dùng nhiều loại thực phẩm: Bữa ăn 
đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng. Mỗi bữa ăn không chỉ đủ các nhóm 
thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực phẩm nên thay thế nhiều loại khác nhau 
kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Các món ăn cần phong phú về màu sắc, mùi vị, 
nấu ở nhiệt độ thích hợp. 
 Thực đơn thay đổi theo mùa, theo tuần để kích thích sự biếng ăn của trẻ . 
Cùng với sự kết hợp hài hòa giữa các loại thực phẩm từ màu sắc đến chất lượng 
để giúp trẻ ăn ngon miệng. 12 
 Ví dụ: Thực phẩm từ tôm có thể chế biến món tôm thịt viên sốt cà chua. 
Thực phẩm từ cua đồng ngoài nấu canh riêu cua có thể kết hợp với rau mồng tơi, 
rau đay, rau đền...chất nọ bổ xung chất kia làm giá trị dinh dưỡng tăng lên rất 
nhiều. 
 Thứ tư là thực đơn phải xây dựng theo mùa: Khi xây dựng thực đơn phải 
chú ý sử dụng thực phẩm có sẵn theo mùa. Trên thị trường hầu như các loại rau, 
củ, có quanh năm, tuy nhiên việc lựa chọn thực phẩm theo mùa là cần thiết. Ngoài 
lợi ích kinh tế còn đảm bảo lượng vitamin và khoáng chất ở mức cao nhất và 
không bị ảnh hưởng do chất bảo quản. Như mùa hè nóng bức ta sử dụng các loại 
rau như: Mồng tơi, mướp, cải xanh để nấu canh cua; Rau muống, rau ngót, bí 
xanh, nấu thịt, tôm. Về mùa đông ta nên cho trẻ ăn các loại rau củ như : khoai tây, 
su hào, cà rốt nấu thịt hay canh bắp cải,canh cải bó xôi rất giàu hàm lượng dinh 
dưỡng. Cho trẻ ăn các loại rau đúng vụ sẽ tránh xảy ra các tình trạng ngộ độc. 
 Hình ảnh 04: Hình ảnh thực đơn của trẻ theo mùa 
 Sau khi thực đơn của tôi trình lên Ban giám hiệu và được áp dụng thực đơn 
của tôi vào bữa ăn của trẻ. Ngay tuần đó Ban giám hiệu, nhân viên y tế cùng các 
chị em trong bếp đã tiến hành nấu thử các món ăn trong thực đơn đã lựa chọn. 
Những ngày đầu tiên áp dụng thử thực đơn của tôi, Ban giám giám hiệu, chị em 
trong tổ nuôi thường xuyên lên lớp để quan sát xem trẻ ăn có ngon miệng, có phù 
hợp với khẩu vị và ăn hết suất không. Sau một tuần thử nghiệm và quan sát kết 
quả thu được trên cả mong đợi của tôi và ban giám hiệu, trẻ ăn rất ngon miệng, ăn 
hết suất và khi được hỏi các món ăn này trẻ và các cô giáo trực tiếp cho trẻ ăn đều 
trả lời trẻ rất thích những món ăn trong thực đơn của tôi. Và thực đơn do tôi xây 
dựng chính thức được đưa vào thực đơn của trường áp dụng cho cả 3 điểm trường 
cùng thực hiện nấu cho trẻ ăn. 
 Từ đó có thể nói rằng xây dựng thực đơn theo mùa một cách linh hoạt đảm 
bảo dinh dưỡng cho trẻ là vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dinh 
dưỡng bữa ăn của trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, hết suất và giảm tỷ lệ suy dinh 
dưỡng cho trẻ mầm non. 
 Giải pháp 3: Nắm vững yêu cầu thực hiện để đảm bảo an toàn và lựa 
chọn thực phẩm tươi ngon. 
 Để có một bữa ăn ngon, món ngon thì việc lựa chọn thực phẩm tươi ngon 
có giá trị về mặt dinh dưỡng là một điều hết sức quan trọng. 
 - Chọn gạo ngon, gạo là thực phẩm dạng lương thực cung cấp chủ yếu chất 
tinh bột, tinh bột khi vào cơ thể, qua quá trình chuyển hóa sẽ cho chúng ta dạng 
đường đơn giản, đây là dạng năng lượng chủ yếu cho con người. 13 
 + Gạo mới sẽ giữ nguyên hàm lượng dưỡng chất mà ở đây chủ yếu là tinh 
bột, không có các thành phần nấm mốc. Để biết được gạo có mới, tươi ngon hay 
không ta cần nhìn và sờ vào gạo. 
 + Gạo mới là gạo khô, không bị ẩm mốc, các hạt gạo đều nhau, hình tròn 
hay dài tuỳ giống lúa, trong, không đục, không xin, không có mạt cám, không có 
màu sắc biến đổi. Nếu cắn thử thấy hạt gạo giòn, không vỡ vụn hay bờ bục. Ngửi 
mùi gạo có mùi thơm đặc trưng. Đó là gạo mới và ngon 
 - Đối với các loại thịt: Thịt là thực phẩm cung cấp chất đạm và chất béo 
cho cơ thể. Chất đạm và chất béo có vai trò kiến tạo nên các bộ phận, một phần 
chúng còn tham gia vào cơ chế cung cấp và duy trì năng lượng. 
 + Đối với thịt lợn, miếng thịt nhìn tươi ngon, nếu là thịt mới thì thịt còn ấm, 
miếng thịt dẻo thơm mùi đặc trưng, không hôi, không có mùi lạ, bề mặt miếng 
thịt không có lớp màng bao phủ, lấy ngón tay ấn sẽ thấy đàn hồi tốt và không chảy 
nước, nếu nhìn nghiêng dưới ánh sáng thì có thể thấy các màu ngũ sắc ánh lên 
khác nhau. Đó là thịt tươi và ngon. 
 + Đối với thịt bò: cũng kiểm tra như thịt lợn nhưng với thịt bò khi ngửi có 
mùi thơm đặc trưng. 
 + Đôi với thịt gà: chọn con to béo, mình tròn, da vàng, chân nhỏ, xách nặng 
tay là được. 
 + Đối với cá: Cá là một thực phẩm rất tốt cho sức khoẻ vì cung cấp nhiều 
đạm, nhiều axit béo tốt không gây béo phì, cung cấp một số khoáng chất quan 
trọng như iot. Khi chọn cá lưu ý vảy cá xếp đều, không bong tróc, mang cá phải 
khép chặt, nếu lấy tay nâng mang cá lên xem sẽ thấy mang cá màu hồng tươi mà 
không phải màu tía, cá tươi thì mắt cá to, sáng trong, hơi lồi ra ngoài, chất nhờn 
trên mình phải trong, không có mùi lạ. 
 + Đối với tôm: trước hết, tôm phải còn sống. Chú ý thấy tôm có vỏ bóng, 
trơn, sống giữa thân tôm tươi và trong, đó mới là tôm ngon, chắc thịt. 
 - Đối với các loại rau củ quả: Rau quả tươi là nhóm thực phẩm cung cấp 
chất xơ và các khoáng chất cần thiết như sắt, đồng, kẽm, magiê. Rau củ tươi là 
rau củ không héo, màu xanh hoặc màu đặc trưng mà không bị biến dạng. Cánh lá 
cứng cáp, không mềm. Cầm cây rau lên thân cây rau sẽ nằm thẳng, không mềm 
rũ xuống là rau mới. Quan sát lá rau, lá rau không được vàng, không có lá đen. 
Cuống lá rau phải còn xanh, mập. Đối với các loại củ thì củ không được dập nát, 
ta nhìn tươi ngon là được. 
 - Đối với thực phẩm khô: Không nên chọn các loại thực phẩm khô khi thấy 
bị mốc, vì có chứa chất độc vi nấm rất nguy hiểm, khi dùng thực phẩm đóng hộp, 
đóng gói, phải có đủ nhãn ghi thành phần, nơi sản xuất và trong thời hạn sử dụng, 14 
không sử dụng chất bảo quản, phẩm màu, đường hóa học không đủ tiêu chuẩn cho 
phép để chế biến. 
 + Không mua khi thấy không có nhãn hàng hóa, không ghi hạn dùng, hoặc 
quá hạn sử dụng, không ghi rõ nơi sản xuất. 
 Hình ảnh 05: Hình ảnh các loại thực phẩm tươi ngon được lựa chọn 
 Như chúng ta đã biết “ Phòng bệnh hơn là chữa bệnh ”: Để đề phòng xảy 
ra ngộ độc thực phẩm, ngoài cách mua chọn thực phẩm an toàn, cần phải có ý 
thức thực hiện tốt An toàn vệ sinh thực phẩm và có tinh thần trách nhiệm cao, với 
nhiệm vụ làm cô nuôi, trực tiếp tiếp xúc thực phẩm, tôi luôn rửa tay trước, trong 
và sau khi chuẩn bị ăn, duy trì vệ sinh nhà bếp, bảo vệ thức ăn tránh bị nhiễm bẩn 
bởi ruồi nhặng côn trùng và chuột. 
 Trước khi chế biến thực phẩm phải rữa kỹ thịt, cá ...các loại rau, quả ngâm 
nước muối khoảng 30 phút, rửa từ 3 - 4 lần. 
 Khi chế biến các các loại rau củ, tôi chú ý đến việc làm thế nào để loại bỏ 
hóa chất bảo vệ thực vật ra khỏi thực phẩm : 
 Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm khi tổ chức bữa ăn cho trẻ, người 
chế biến thực phẩm, chia thức ăn cần thực hiện các yêu cầu sau: 
 Thực hiện rửa tay theo qui định như: Rửa tay sau khi đi vệ sinh, tiếp xúc 
với thực phẩm sống, chạm tay vào rác, sau mỗi lần nghỉ.Rửa tay trước khi chế 
biến, tiếp xúc với thực phẩm, chia thức ăn cho trẻ. Rửa tay bằng xà phòng dưới 
vòi nước sạch. Tuân thủ đúng các bước theo quy định. Mặc quần áo bảo hộ lao 
động gọn gàng, sạch sẽ. Không để móng tay dài, đảm bảo thức ăn an toàn: Giữ vệ 
sinh dụng cụ chế biến thực phẩm, dụng cụ đựng thực phẩm. Để riêng thực phẩm 
sống và thực phẩm chín. Chế biến thực phẩm đúng cách, nấu chín thức ăn. Bảo 
quản thực phẩm ở nhiệt độ an toàn. Sử dụng nước sạch và thực phẩm an toàn. 
 Hình ảnh 06: Hình ảnh cô nuôi mặc trang phục đúng quy định đang chế 
biến món ăn cho trẻ. 
 Nắm vững yêu cầu thực hiện để đảm bảo an toàn và lựa chọn thực phẩm 
tươi ngon đã giúp tôi tự tin khi lựa chọn thực phẩm và giao nhận thực phẩm để 
chế biến, các thực phẩm tươi ngon đã góp phần không nhỏ quyết định món ăn đó 
có thơm ngon và giàu dinh dưỡng hay không. Qua những hoạt động lựa chọn và 
thực hiện đúng, đảm bảo thực phẩm tươi ngon đã chứng tỏ món ăn chất lượng, 
dinh dưỡng cao phải nhờ có khâu lựa chọn thực phẩm là một khâu quan trọng góp 
phần cải thiện tỷ lệ suy suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non. 
 Giải pháp 4: Làm tốt công tác phối hợp với giáo viên và phụ huynh 
 Tôi đã phối hợp với giáo viên trang trí góc tuyên truyền tại cửa lớp học với 
những bức tranh về ăn uống, bức tranh rau hoa quả có màu sắc cơ bản hấp dẫn 15 
trẻ. Nội dung tuyên truyền thay đổi theo mùa rất phong phú về nội dung các bài, 
gần gũi với cuộc sống. Qua đó giúp phụ huynh hiểu rõ hơn tầm quan trọng của 
bữa ăn đối với trẻ về mọi mặt và bổ sung thêm kiến thức về nuôi dạy con. 
 Sau khi phụ chia ăn xong tôi đi đến từng nhóm lớp để biết được trẻ có ăn 
ngon miệng, hết xuất hay không. Nếu trẻ không ăn hết xuất tôi sẽ tìm hiểu lý do 
để từ đó rút ra kinh nghiệm cách chế biến lần sau. 
 Trong năm học này, tôi đã chủ động cùng giáo viên các lớp có trẻ suy dinh 
dưỡng tổ chức giờ ăn cho trẻ, tôi ngồi cùng nhóm trẻ ăn chậm, suy dinh dưỡng 
động viên trẻ ăn từng ít một, giúp trẻ ăn ngon miệng, dần dần mỗi ngày động viên 
trẻ ăn thêm một chút. Cứ như thế sau một thời gian áp dụng cách làm này số trẻ 
kênh suy dinh dưỡng đã giảm rõ rệt. 
 Hình ảnh 07: Hình ảnh tôi phối hợp với giáo viên trong việc tổ chức bữa 
ăn 
 Ngoài việc gặp gỡ trao đổi trực tiếp với cô giáo trên lớp, với phụ huynh tôi 
còn tuyên truyền trên loa truyền thanh của thôn hoặc qua kênh truyền thông dinh 
dưỡng trang website nhà trường các bài viết nói về dinh dưỡng, cách chăm sóc 
con...từ đó củng cố thêm kiến thức cho phụ huynh và cô giáo trong trường cũng 
được học tập hiểu thêm về nhiệm vụ, công việc nuôi dạy trẻ. 
 Hình ảnh 08: Hình ảnh các nội dung về dinh dưỡng được tôi tuyên truyền 
qua website nhà trường 
 Một số biện pháp lựa chọn thực phẩm và cách chế biến món ăn cho trẻ mầm 
non cũng được tôi lựa chọn làm nội dung tuyên truyền với phụ huynh. Muốn cho 
các bậc phụ huynh tham gia một cách tích cực và công tác phòng chống suy dinh 
dưỡng tôi nghì trước hết, tuyên truyền cho phụ huynh thấy giá trị dinh dưỡng của 
từng loại thực phẩm và cân đối giữa các thực phẩm đó, cho họ biết được việc họ 
cho trẻ ăn uống đủ dinh dưỡng là rất quan trọng. Những bài tuyên truyền như vậy 
tôi thường xuyên gửi tới phụ huynh qua zalo các lớp và được phụ huynh nhiệt tình 
đón nhận và tìm hiểu để thực hiện. 
 Bên cạnh đó tôi còn phối hợp với giáo viên để theo dõi sự phát triển của trẻ 
bằng cách lập danh sách theo dõi trẻ suy dinh dưỡng, béo phì. Cô giáo và cô cấp 
dưỡng cùng phối hợp để xác định trẻ có dấu hiệu suy dinh dưỡng, béo phì thông 
qua: Cân nặng, chiều cao theo định kỳ (theo biểu đồ tăng trưởng WHO). Quan sát 
biểu hiện biếng ăn, kén ăn, chậm phát triển thể chất, trẻ ăn quá nhiều so với tiêu 
chuẩn... ghi chép vào sổ theo dõi để có biện pháp can thiệp kịp thời. Xây dựng 
thực đơn phù hợp, cô cấp dưỡng dựa trên tình trạng thực tế của trẻ để điều chỉnh 
khẩu phần ăn: Bổ sung thực phẩm giàu đạm, vitamin, khoáng chất,đa dạng món 16 
ăn, đảm bảo hấp dẫn về màu sắc, mùi vị, chế biến mềm hơn cho trẻ kém ăn, khó 
nhai. 
 Phối hợp với giáo viên trong giờ ăn, cô giáo quan sát trẻ trong bữa ăn để 
phát hiện tình trạng trẻ ăn ít, kén ăn, cô cấp dưỡng chú ý điều chỉnh món ăn theo 
sở thích và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, hỗ trợ động viên, tạo tâm lý thoải mái khi 
ăn. Đối với trẻ suy dinh dưỡng về cân nặng và chiều cao tôi kết hợp với phụ huynh 
nhắc họ bổ sung thêm sữa hoặc thay đổi chế độ ăn tại nhà, hướng dẫn phụ huynh 
chăm sóc trẻ tại nhà và cung cấp thông tin về thực đơn, chế độ dinh dưỡng phù 
hợp. Đối với trẻ thừa cân thì chia sẻ với phụ huynh nên kiểm soát chế độ ăn của 
trẻ không nên cho trẻ ăn quá nhiều, tránh đồ ăn vặt không có lợi, có thể cắt giảm 
bớt chế độ ăn sao cho phù hợp. Tôi luôn khuyên phụ huynh cho trẻ đi khám sức 
khỏe định kỳ để kiểm soát tình trạng suy dinh dưỡng và có phương pháp can thiệp 
kịp thời. 
 Sau một thời gian thực hiện tốt công tác phối hợp với giáo viên và phụ 
huynh tôi nhận thấy số trẻ biếng ăn, ăn không hết suất giảm rõ rệt tại các lớp. Như 
vậy có thể nói rằng công tác phối hợp với giáo viên và phụ huynh giúp trẻ suy 
dinh dưỡng ăn ngon miệng, hết suất là một việc làm cần thiết góp phần nâng cao 
chất lượng bữa ăn cho trẻ cả ở nhà, ở trường và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng các lớp 
xuống một cách đáng kể. 
 III. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 
 1.Đối với nhân viên 
 Sau khi áp dụng những biện pháp nêu trên tôi nhận thấy rằng: Tôi đã tự tin, 
sáng tạo và linh hoạt hơn nhiều trong các hoạt động nuôi dưỡng và chế biến món 
ăn cho trẻ tại trường mầm non. 
 Nhân viên trong trường đã hiểu được vai trò quan trọng trong việc tự bồi 
dưỡng kiến thức nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn, xây dựng thực đơn theo mùa 
một cách linh hoạt đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ, nắm vững yêu cầu thực hiện để 
đảm bảo an toàn và lựa chọn thực phẩm tươi ngon, làm tốt công tác phối hợp với 
giáo viên và phụ huynh giúp trẻ suy dinh dưỡng ăn ngon miệng, hết xuất là những 
việc làm không thể thiếu góp phần nâng cao chất lượng dinh dưỡng bữa ăn của 
trẻ và giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi, béo phì cho trẻ ở trường. 
 Nắm chắc định lượng quy đổi thực phẩm khẩu phần ăn của trẻ. Biết kết 
hợp cùng giáo viên làm tốt công tác phòng chống cho trẻ béo phì và suy dinh 
dưỡng. 
 Có thêm kỹ năng chế biến món ăn, cách lựa chọn thực phẩm, nắm chắc 
đinh lượng khẩu phần ăn của trẻ. 17 
 Đa số nhân viên linh hoạt hơn, luôn có ý thức tìm tòi học hỏi về những cách 
chế biến món ăn mới lạ, phong phú để trẻ ăn ngon miệng, hết suất. 
 100% nhân viên trong trường đã biết cách xây dựng thực đơn theo mùa phù 
hợp với thực phẩm có ở địa phương để đưa vào thực đơn nhà trường áp dụng. 
 3. Đối với Phụ huynh 
 Hiểu được công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường. Đặc biệt là có kiến 
thức chăm sóc những trẻ suy dinh dưỡng tại nhà, phụ huynh tin tưởng vào chất 
lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, số trẻ ra lớp ngày càng tăng. 
 Phụ huynh sẵn sàng ủng hộ kinh phí mua đồ dùng cho bếp ăn như: Bổ sung 
xoong nồi, bát, thìa 
 3.Đối với trẻ 
 Hầu hết các cháu ăn ngon miệng, hết xuất và phát triển một cách cân đối. 
Trẻ khoẻ mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các hoạt động. Kết quả cân đo 
trẻ đợt III cho thấy số trẻ tăng cân, chuyển kênh được tăng lên rõ rệt, số cháu suy 
dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi và gầy còm cũng giảm rõ rệt so với đầu năm 
học. Giúp trẻ phát triển hài hòa cân đối về mặt thể lực qua đó giúp trẻ lĩnh hội tri 
thức một cách tốt nhất, trẻ mạnh dạn tự tin trong các hoạt động. Điều đó thể hiện 
rõ qua bảng so sánh đối chứng sau: 
 Bảng 2. Kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện đề tài: 
 Stt Tiêu chí khảo sát Số trẻ Trước khi thực hiện Sau khi thực hiện đề 
 khảo sát đề tài tài 
 Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % 
 1 Trẻ suy dinh 
 175 8 4,6 3 1,7 
 dưỡng thể nhẹ cân 
 2 Trẻ suy dinh 
 175 7 4,0 3 1,7 
 dưỡng thể thấp còi 
 3 Trẻ suy dinh 
 dưỡng thể gầy 175 4 2,3 1 0,5 
 còm 
 4 Trẻ thừa cân béo 
 175 4 2,3 1 0,5 
 phì 
 Nhìn vào bảng so sánh đối chứng trên, tôi thấy rằng số trẻ ở các tiêu chí 
suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi, gầy còm và trẻ béo phì đều giảm so với 
đầu năm, tỷ lệ cuối năm chỉ còn từ 0,5-1,7%. Điều đó chứng tỏ rằng: Một số giải 
pháp mà tôi đã áp dụng trong năm học cũng đã góp phần nhỏ trong việc nâng cao 
hiệu quả và chất lượng bữa ăn cho trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất đồng thời 18 
giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo phì cho trẻ. Từ đó trẻ có cơ thể khoẻ 
mạnh cân phát triển một cách toàn diện về thể chất và tinh thần. 
 IV. Hiệu quả của sáng kiến 
 1. Hiệu quả về khoa học 
 Qua việc áp dụng một số kinh nghiệm của bản thân vào việc tổ chức cho trẻ 
trải nghiệm, tôi đã thu được nhiều kết quả khảo nghiệm có giá trị khoa học trong 
phạm vi nhà trường. Nâng cao kiến thức và kỹ năng chế biến món ăn của bản thân 
được vững vàng hơn đó là nền tảng để tôi tiếp tục sáng tạo, đổi mới cho những 
lần sau thực hiện và là bước đầu để tôi cùng đồng nghiệp áp dụng các giải pháp 
này giúp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ 
nhưng vẫn phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. 
 Thực hiện đề tài này là tôi đã đóng góp vào kho học liệu của nhà trường và 
lan tỏa tới nhân viên nuôi dưỡng, đồng nghiệp trong trường thêm một ý tưởng, 
một sáng kiến mới để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong nhà 
trường. 
 Đề tài ứng dụng phương pháp đổi mới, sáng tạo nhằm khuyến khích tất cả 
nhân viên tích cực học tập và đổi mới, sáng tạo. Làm cơ sở để đúc kết kinh nghiệm 
và nhân rộng trong toàn trường. 
 2. Hiệu quả về kinh tế: 
 Sáng kiến được áp dụng tại đơn vị đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn trong 
việc quản lý chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Các biện pháp dễ 
áp dụng, ít tốn kém, có thể tận dụng các thực phẩm theo mùa sẵn có ở địa phương 
để nấu và thay đổi thực đơn cho trẻ. Giảm thiểu việc mua các loại thực phẩm 
không rõ nguồn gốc và giá thành cao. Đề tài chỉ ra các biện pháp để ứng dụng 
nâng cao chất lượng bữa ăn, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vào hoạt động chăm 
sóc nuôi dưỡng trẻ một cách hiệu quả, giảm bớt kinh phí cho nhà trường. 
 - Đối với phụ huynh: không phải mất thời gian điều trị trẻ suy dinh dưỡng 
không phải mua các loại thuốc, sữa dinh dưỡng đắt tiền, tiết kiệm được kinh tế. 
 - Đối với nhà trường: có nhiều giải pháp trong công tác chăm sóc trẻ suy 
dinh dưỡng, phụ huynh yên tâm công tác gửi con cho nhà trường. 
 3. Hiệu quả về xã hội: 
 Hiệu quả về mặt xã hội trực tiếp giúp nhân viên nuôi dưỡng bổ sung và 
nâng cao kiến thức, tay nghề nấu ăn cũng như hiệu quả, chất lượng bữa ăn cho trẻ 
mầm non. Giúp nhân viên nắm chắc định lượng quy đổi thực phẩm khẩu phần ăn 
của trẻ. Biết kết hợp cùng giáo viên làm tốt công tác phòng chống cho trẻ suy dinh 
dưỡng. Có thêm kỹ năng chế biến món ăn, cách lựa chọn thực phẩm, nắm chắc 19 
đinh lượng khẩu phần ăn của trẻ. Góp phần nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ 
nhân viên. 
 Tạo được niềm tin của phụ huynh và cộng đồng đối với nhà trường. Tạo 
nên sự gắn kết chia sẻ giữa nhân viên nuôi dưỡng với phụ huynh và giáo viên. 
Hiểu được công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường. Đặc biệt là chăm sóc những 
trẻ suy dinh dưỡng. Tin tưởng vào chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, số trẻ ra 
lớp ngày càng tăng. 
 V. Tính khả thi 
 Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài này đã cung cấp nhiều cơ hội cho nhân 
viên nuôi dưỡng, phụ huynh, giáo viên và trẻ được giao tiếp, trao đổi thông tin 
cùng nhau, trẻ được ăn những bữa ăn khoa học, đủ chất và đảm bảo dinh dưỡng 
giúp trẻ phát triển bình thường. 
 Trẻ đến lớp nhanh nhẹn hơn, thích ăn các món ăn ở trường, ăn ngon miệng 
và hết suất. 
 Đề tài này có khả năng áp dụng và nhân rộng trong trường mầm non. Thực 
tế, trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đề tài này đã có sức lan tỏa đến đồng 
nghiệp, đã được tôi chia sẻ với nhân viên nuôi dưỡng trong trường và có thể áp 
dụng với các trường trong huyện. Ngoài ra, đề tài này cũng có thể dùng làm tài 
liệu cho nhân viên nuôi dưỡng. 
 VI. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 
 Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025. 
tiếp tục áp dụng cho các năm học tiếp theo. 
 VII. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến 
 Đề tài sáng kiến chủ yếu là nhân viên nuôi dưỡng tích cực tự học tập bổi 
dưỡng kiến thức, kỹ năng chế biến món ăn. Các loại thực phẩm chủ yếu là các 
loại thực phẩm theo mùa mà địa phương có nên chi phí thấp hơn so với thị trường, 
kinh phí để tôi thực hiện đề tài tôi ước tính khoảng 1,5 triệu đồng. 
 20 
 PHẦN THỨ BA: KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 
 1. Đối với nhân viên nuôi dưỡng 
 - Liên tục học tập, tìm tòi và đổi mới các món ăn, thay đổi thực đơn phù 
hợp với trẻ ở đia phương. 
 - Coi trọng chất lượng bữa ăn và chế độ ăn hợp lý cho trẻ 
 - Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên về kiến thức phòng 
chống suy dinh dưỡng cho trẻ 
 - Lựa chọn và chế biến thực phẩm đúng nguyên tắc, đảm bảo vệ sinh, an 
toàn thực phẩm. 
 - Làm tốt công tác tuyên truyền phối hợp với giáo viên và phụ huynh 
 2. Đối với nhà trường 
 - Tiếp tục làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cân đối dinh 
dưỡng, tạo cảm giác ngon miệng cho trẻ. 
 - Phối hợp với trạm y tế kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ, kiểm tra chế độ 
vệ sinh, vệ sinh ATTP trong nhà trường. 
 3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ba Vì 
 - Tham mưu với Ủy ban nhân dân huyện về việc bổ sung thêm cơ sở vật 
chất trang thiết bị phục vụ cho công tác bán trú của nhà trường. 
 - Tăng cường mở thêm các lớp tập huấn cho nhân viên nuôi dưỡng về 
nghiệp vụ nấu ăn và vệ sinh ATTP cho trẻ. 
 - Trên đây là “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở 
trường mầm non” tôi đã nghiên cứu và thực hiện trong năm học 2024-2025. Tuy 
nhiên trong quá trình áp dụng các biện pháp đổi mới vẫn không tránh khỏi những 
thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa 
học, chị em đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn. 
 Tôi xin trân thành cảm ơn! 
 Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi. Tôi 
không sao chép của bất cứ ai. 
 Ba Vì, Ngày 20 tháng 03 năm 2025 
 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết sáng kiến 
 HIỆU TRƯỞNG (ký tên) 
 (ký tên, đóng dấu) 
 Bàn Thị Lệ Thuỷ 
 Dương Thị Oanh 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_b.pdf