Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài 1. Cơ sở lý luận “Trẻ em là đóa hoa tự nhiên và thuần khiết của nhân loại”. Quả vậy, bất kể những lời nói, hành động của người lớn đều có thể tác động tới nhận thức, lời nói và hành động của trẻ em. Nhiều bậc phụ huynh để những lời nói thiếu văn hóa và hành xử xấu của mình đi vào thế giới trẻ thơ, đồng nghĩa với việc đang hủy hoại dần nhân cách của một con người ngay từ khi chúng còn là một đứa trẻ. Mọi lời khuyên răn, phê phán của cha mẹ tới con trẻ không thể tác động mạnh bằng việc mỗi cha mẹ luôn nỗ lực, phấn đấu là những tấm gương sáng cho con trẻ noi theo một cách rất tự nhiên, không khiên cưỡng. Như chúng ta đã biết, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm kỹ năng xã hội và thẩm mỹ cho trẻ. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết và nhận ra trẻ em lứa tuổi 24-36 tháng tuổi, các chức năng tâm lý phát triển mạnh nhưng chưa ổn định. Trẻ tựa như một chồi non mới nhú, còn rất non nớt, nhạy cảm với các tác động của môi trường xung quanh nên tôi thấy việc giáo dục đưa các cháu vào nề nếp để tham gia mọi hoạt động trong ngày của trẻ là rất khó khăn. Vì trẻ chưa tách rời ông bà, bố mẹ, những người thân trong gia đình. Vậy làm thế nào để nhanh chóng đưa trẻ vào nề nếp ngay từ những ngày đầu - ngày mà trẻ bắt đầu làm quen với một môi trường mới. Đây chính là nhiệm vụ vô cùng cần thiết và quan trọng đối với các nhà giáo dục, đặc biệt là với các cô giáo mầm non. Nếu trẻ không được uốn nắn ngay từ đầu một cách khoa học thì sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này. 2. Cơ sở thực tiễn Là một giáo viên mầm non đã công tác được hơn 10 năm, với lòng yêu nghề và tâm huyết với nghề mình đã chọn. Bản thân tôi nhận thấy, trẻ ở giai đoạn 24- 36 tháng tuổi là giai đoạn trẻ mới bắt đầu bi bô tập nói và ở giai đoạn này trẻ cũng mới bắt đầu nhận thức được việc mình làm đúng- sai hay tốt- xấu. Hơn thế nữa, trẻ ở độ tuổi này trẻ mới bắt đầu rời xa tình yêu thương của ông bà, bố mẹ đi học trường mầm non. Do đó, thói quen nề nếp của trẻ ở trường mầm non chưa được hình thành. Chính vì vậy vấn đề rèn luyện nề nếp thói quen cho 2 trẻ ở trường mầm non giai đoạn 24- 36 tháng tuổi là việc hết sức quan trọng và cần thiết. Việc rèn luyện thói dày nề nếp thói quen cho trẻ 24- 36 tháng tuổi sẽ là cái kiềng vững chắc làm nền tảng cho việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ sau này. Vì những lý do này, tôi đã luôn trăn trở, tìm tòi và sáng tạo ra những phương pháp cách thức rèn nề nếp cho trẻ tốt nhất, góp phần giúp trẻ có niềm say mê khi đến lớp, khi được cùng cô và các bạn tham gia các hoạt động ở trường. Bởi vậy, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và đưa ra: “Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. Hy vọng những gì tôi làm được sẽ góp phần nhỏ bé vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung, trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non nói riêng. II. Mục đích nghiên cứu. Nhằm tìm ra một số biện pháp để rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi một cách nhẹ nhàng, trẻ được thoải mái, tự nhiên hoạt động không gò bó giúp việc hình thành và phát triển nhân cách đầu tiên của trẻ đạt được kết quả tốt nhất. III. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non. IV. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm Trẻ lớp 24-36 tháng tuổi trường mầm non tôi công tác V. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý luận. - Phương pháp quan sát điều tra. - Phương pháp trò chuyện trao đổi. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp thống kê số liệu. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu - Phạm vi: 24 trẻ lớp 24-36 tháng tuổi trường mầm non tôi công tác - Kế hoạch nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 05 năm 2023. 3 PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Những nội dung lý luận liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm nề nếp Nề nếp chính là những quy định, thói quen để duy trì sự trật tự ổn định trong công việc hoặc trong sinh hoạt hàng ngày. Nề nếp còn là thói quen giữ gìn cách làm việc hợp lý và sự linh hoạt có trật tự kỷ cương. 2. Vai trò của việc rèn luyện nề nếp Nề nếp của trẻ mầm non nói chung, trẻ 24-36 tháng tuổi nói riêng thể hiện trong mọi hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày: Cách giao tiếp của trẻ với người lớn tổi, với bạn bè..., thói quen ăn ngủ vệ sinh, kỹ năng cất dọn đồ dùng ca nhân, đồ dùng đồ chơi khi chơi xong. Trẻ có nề nếp tốt sẽ góp phần hình thành con người phát triển toàn diện về nhân cách. Một trẻ có nề nếp tốt sẽ là tấm gương nhiều trẻ khác noi theo. Một lớp nhiều trẻ có nề nếp tốt thì mọi hoạt động của lớp đó cũng sẽ tốt. Cô giáo và cha mẹ chính là cầu nối giúp các con có được những thói quen và nề nếp tốt. Nề nếp tốt sẽ là nền tảng để tạo nên nhân cách tốt. II. Khảo sát thực trạng 1. Thuận lợi - Tôi luôn nhận được sự quan tâm sát sao và tạo điều kiện làm việc tốt nhất của Ban giám hiệu nhà trường, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp. - Với đội ngũ giáo viên trẻ, có trình độ chuyên môn trên chuẩn và chuẩn chức danh nghề nghiệp, nhiệt tình, năng động cùng với lòng nhiệt huyết yêu nghề, mến trẻ, luôn cố gắng trao dồi, học tập để tự nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Đa số các bậc phụ huynh đều nhiệt tình với lớp, quan tâm đến sự phát triển của con em mình. - Tôi luôn được nhà trường tạo điều kiện để tham gia đầy đủ các chuyên đề về đổi mới của ngành học mầm non, các lớp tập huấn do phòng giáo dục tổ chức, các cuộc thi - các phong trào thi đua của nhà trường . 2. Khó khăn - Đa số trẻ là con em đồng bào dân tộc Dao nên tâm lý chung là các con còn nhút nhát, thiếu tự tin nên khả năng giao tiếp của các con còn nhiều hạn chế. Hơn thế nữa, trẻ đang sống trong môi trường gia đình, được ông bà, bố mẹ yêu thương chăm sóc nên khi đến trường, lớp là nơi hoàn toàn mới mẻ, xa lạ với trẻ. Do đó nhiều trẻ còn chưa quen với nề nếp, thói quen của lớp. 4 - Một số phụ huynh nhận thức chưa đồng đều, họ cho là lứa tuổi trẻ còn nhỏ chưa cần thiết phải học tập, đặc biệt là chưa cần rèn luyện nề nếp. Bên cạnh đó còn có một số phụ huynh nuông chiều con quá mức khiến trẻ tạo cho trẻ tính nhõng nhẽo, khó bảo... Từ đó dần dần tạo ra sự ỉ lại, lười biếng, dẫn đến những thói quen không tốt cho trẻ . - Đồ dùng đồ chơi ở các góc và phục vụ các hoạt động còn hạn chế. Trước khi thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình, tôi tiến hành khảo sát về nề nếp thói quen thực tế trẻ lớp tôi lúc đó, kết quả cụ thể như sau: - Nhiều trẻ luôn cảm thấy sợ hãi khi phải tới lớp, không thích đi lớp, tới lớp còn quấy khóc, không biết chào hỏi cô giáo, không biết cất đồ dùng cá nhân. - Giờ ăn trẻ không ăn, còn ngủ gật, nhiều trẻ chưa biết tự xúc cơm, hay còn bốc nhót, làm rơi vãi cơm ra bàn - Giờ ngủ nhiều trẻ còn quấy khóc, không ngủ, ngủ hay giật mình, hay đái dầm... - Nhiều trẻ chưa biết đi vệ sinh đúng nơi quy định, còn vứt rác bừa bãi. - Nhiều trẻ không tham gia vào các hoạt động của lớp, ngồi học không chú ý còn nói chuyện, đùa nghịch, một số trẻ chỉ ngồi một góc mà không chịu giao lưu với bạn bè, cô giáo..... 3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện Đạt Chưa đạt Tiêu chí khảo sát Tổng Tỷ lệ SL Tỷ lệ % SL số % Trẻ đi học đều 24 13 54,2% 11 45,8% Trẻ biết chào hỏi 24 10 41,7% 14 58,3% Trẻ hứng thú tham gia 24 10 41,7% 14 58,3% vào các hoạt động Trẻ biết tự cất dọn đồ 24 11 45,8% 13 54,2% dùng đồ chơi Trẻ biết ăn, ngủ, vệ 24 12 50% 12 50% sinh đúng giờ Bảng 1: Khảo sát trước khi thực hiện đề tài. Từ bảng khảo sát trên tôi nhận thấy nề nếp của trẻ đầu năm còn rất kém, đa số trẻ chưa biết chào hỏi lễ phép với các cô, chưa biết tự cất đồ dùng cá nhân và nề nếp ăn ngủ, vệ sinh của trẻ cũng rất kém, đặc biệt là trẻ hầu như không hứng thú tham gia vào các hoạt động. 5 Tôi đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau: - Tôi xây dựng môi trường giáo dục chưa khoa học và chưa tích cực làm đồ dùng đồ chơi tự tạo ở các góc nên không gây được sự hứng thú cho trẻ. - Tôi chưa linh hoạt sử dụng các phương pháp và hình thức trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày, đặc biệt là việc rèn nề nếp cho trẻ. - Tôi chưa thường xuyên nghiên cứu tài liệu có liên quan đến việc rèn luyện nề nếp cho trẻ. - Tôi chưa biết kết hợp với bậc phụ huynh trong quá trình rèn luyện nề nếp cho trẻ. - Tôi chưa động viên, khuyến khích trẻ kịp thời trong các hoạt động... III. Những biện pháp chủ yếu thực hiện đề tài Đứng trước thực trạng trên tôi thực sự băn khoăn lo ngại cho trẻ lớp tôi. Từ đó tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và đưa ra một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở lớp tôi như sau: 1. Nghiên cứu tài liệu, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. 2. Rèn luyện bằng tình yêu thương, sự quan tâm, gần gũi của cô đối với trẻ. 3. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để có biện pháp thích hợp kịp thời. 4. Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và tích cực làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ hoạt động. 5. Rèn luyện nề nếp thường xuyên cho trẻ trong mọi hoạt động ở mọi lúc mọi nơi. 6. Tích cực tuyên truyền vận động, phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường. IV. Biện pháp từng phần 1. Biện pháp 1. Nghiên cứu tài liệu, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Trước đây, tôi chỉ rèn luyện cho trẻ bằng những kiến thức sẵn có mà chưa biết học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, chưa thường xuyên nghiên cứu tài liệu nên việc rèn nề nếp cho trẻ còn dập khuân, chưa sáng tạo khiến cho việc hình thành nề nếp của trẻ còn rất khó khăn. Giờ đây tôi nhận thấy rằng: Muốn đưa chất lượng về việc rèn luyện nề nếp cho trẻ đạt hiệu quả cao, tôi cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo những tài liệu có nội dung về đề tài như: Hướng dẫn thực hiện chương trình trẻ 24 - 36 tháng tuổi, tạp chí giáo dục mầm non, giáo trình tâm lý trẻ em từ 0 - 6 tuổi, tuyển tập những trò chơi- câu đố thơ- truyện cho trẻ từ 24 - 36 tháng tuổi, tập bài hát “cùng hát vang bài ca sức khỏe - vệ sinh”. Muốn thực hiện việc rèn nề nếp thói quen cho trẻ đạt hiệu quả cao thì tôi cần dựa vào tình hình thực tế trẻ ở trong lớp của mình để từ đó tìm tòi những 6 phương pháp và hình thức rèn luyện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Xuất phát từ tình hình thực tế, dựa vào đặc điểm sinh lý của trẻ tôi đã đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo những tài liệu có nội dung về đề tài rèn luyện nề nếp và thói quen cho trẻ, đó là những tạp chí giáo dục, những giáo trình giáo dục mầm non nói về tâm lý trẻ như tâm lý học trẻ em, những câu chuyện ngắn nói về trẻ, đặc biệt là tôi nghiên cứu kỹ quy chế chăm sóc trẻ để nắm chắc phương pháp và cách rèn nề nếp thói quen cho trẻ, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, đúc kết của bản thân, nhận thức đúng đắn, hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, nắm vững tình hình cụ thể của lớp. Đồng thời tìm hiểu cả về những thói quen của gia đình trẻ, những khó khăn và điều kiện thuận lợi của nhà trường, của lớp. Từ đó, tôi có thể xây dựng kế hoạch cụ thể và tìm ra phương pháp và hình thức rèn luyện trẻ hữu hiệu nhất, đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, trong năm học tôi đã được tham dự rất nhiều chương trình tập huấn do phòng và nhà trường tổ chức. Đặc biệt là từ những buổi tập huấn do phòng tổ chức ở một số điểm trường trên địa bàn huyện tôi có điều kiện để học hỏi kinh nghiệm của các bạn bè đồng nghiệp về hình thức rèn luyện nề nếp thói quen cho trẻ sao cho hiệu quả nhất. Sau đó, về tôi dựa vào tình hình thực tế trẻ trong lớp mình để áp dụng biện pháp rèn luyện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở trong lớp. Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu phụ trách chuyên môn cùng với Tổ chuyên môn đã họp và thông nhất xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục, đặc biệt là hoạt động kỹ năng sống để 100% giáo viên đươc tham dự để học tập, rút kinh nghiệm và từ đó xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp với độ tuổi và thực tế trẻ ở từng nhóm lớp. Hình ảnh 1: Hình ảnh giáo viên tham dự hoạt động giáo dục mẫu cấp trường Ngoài ra, thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn 2 lần một tháng, tôi còn tranh thủ thời gian học hỏi đồng nghiệp, bạn bè để bổ sung thêm kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mình. Hiện nay với hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng “Nghiên cứu bài học” đã mang lại hiệu quả cao trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Qua những buổi sinh hoạt chuyên môn đó đã giúp cho giáo viên chúng tôi chủ động tìm ra và tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích cho việc chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là việc rèn luyện nề nếp cho trẻ lớp tôi được tốt hơn. Hình ảnh 2: Học tập đồng nghiệp trong buổi sinh hoạt chuyên môn 7 2. Biện pháp 2. Rèn luyện bằng tình yêu thương, sự quan tâm, gần gũi của cô đối với trẻ. Trong môi trường sư phạm mầm non, tình yêu thương và cách giao tiếp của một cô giáo mầm non có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển cảm xúc, tình cảm, phẩm chất và nhân cách của trẻ. Bởi trong những năm đầu đời, trẻ luôn cần có một hình mẫu để noi gương. Mọi nhân cách, phẩm chất của trẻ đều được hình thành trong việc giao tiếp với mọi người xung quanh. Chính vì vậy, đòi hỏi người giáo viên mầm non khi đứng lớp phải yêu thương, gần gũi, tâm sự thật nhiều với trẻ, đặc biệt là phải có cách giao tiếp, ứng xử một cách khéo léo, tinh tế và linh hoạt trước mọi hành động của trẻ. Khi được 24 – 36 tháng tuổi, trẻ đi học lớp nhà trẻ, mọi vật xung quanh đều xa lạ: Trường mới, cô mới, trẻ còn bỡ ngỡ, lạ lẫm vừa lưu luyến nhớ gia đình, thậm chí có cháu còn sợ hãi, khóc nhè Vậy để trẻ có tâm lý thoải mái khi bước vào lớp thậm chí có thể quay ra chào ông bà, bố mẹ trước khi vào lớp thì việc tôi cần làm là luôn đón trẻ bằng tình yêu thương, vỗ về và cởi mở để trẻ nghĩ rằng “cô giáo là một người bạn lớn, đáng tin cậy của trẻ”. Từ đó giúp cho trẻ có được cảm giác an toàn, thoải mái khi xa vòng tay của bố mẹ để vào lớp với các cô giáo. Với trẻ lứa tuổi nhà trẻ 24- 36 tháng, những ngày đầu mới nhập lớp, trẻ cần sự âu yếm, nhẹ nhàng, quan tâm yêu thương của cô giáo, tình cảm của cô đối với trẻ giàu cảm xúc thân thiết, yêu thương như mẹ con, tạo nên không khí cởi mở, quên mình là người lớn để thực sự là người bạn của trẻ. Cô có thể sử dụng nghệ thuật của mình để thu hút lôi cuốn trẻ vào các hoạt động một cách dễ dàng, nhằm phát huy sự thích thú đến lớp của trẻ. VD: Khi đón trẻ vào lớp những ngày đầu trẻ còn bỡ ngỡ có trẻ quấy khóc, dỗi hờn, nôn chớ... tôi bế trẻ âu yếm vỗ về rồi cho trẻ xem tranh và trò chuyện hoặc hát, kể chuyện cho trẻ nghe rồi cùng trẻ chơi các đồ chơi để trẻ quên đi nỗi nhớ nhà. Hay trong giờ ăn: nhiều trẻ không ăn, chỉ ngồi khóc, miệng còn nói: “con không ăn cơm ở lớp”, có trẻ thì không biết xúc, còn bốc nhót, làm rơi vãi cơm ra bàn, còn ngủ gật, thậm chí có những trẻ ăn vào lại chớ ra... nhưng tôi không hề nản trí mà vẫn cố gắng ân cần, dỗ dành, động viên khuyến khích, bón từng thìa cơm, thìa cháo, thìa sữa cho trẻ. Mới đầu trẻ ăn ít, dần dần trẻ quen ăn được nhiều thì tôi tập cho trẻ tự cầm thìa xúc cơm ăn, nhắc nhở trẻ không bốc nhót, không nói chuyện, không làm rơi vãi, nếu rơi vãi thì nhặt vào đĩa. Và sau một thời gian dài trẻ đã thực sự hứng thú , quen nếp: cứ đến giờ ăn trẻ tự lấy ghế ngồi vào bàn ăn, trẻ đã ăn hết xuất của mình một cách ngon lành. Hình ảnh 3: Cô chăm sóc trẻ từng bữa ăn 8 Trong giờ ngủ: Trước đây, khi tôi chỉ mới bắt đầu kê phản thì một số trẻ đã khóc thét lên rồi, nhất định không đi ngủ. Khi cho trẻ ngủ tôi đã ngồi hát những bài hát ru giống như lời ru ngọt ngào của mẹ , rồi kể những câu chuyện cổ tích cho trẻ nghe... Với một số trẻ đặc biệt khó tính: khóc hờn, hay giật mình thì tôi bế cho trẻ ngủ rồi mới đặt trẻ hoặc nằm cạnh ôm trẻ ngủ cho trẻ ngủ ngon giấc... Hình ảnh 4: Hình ảnh cô vỗ về chăm sóc giấc ngủ cho trẻ Từ đó trẻ dần dần quen nếp,cứ đến giờ cô kê phản là trẻ tự động đi lấy gối và nằm vào chỗ ngủ một giấc thật ngon. Trong giờ vệ sinh: có những trẻ cả ngày không chịu đi bô, chỉ đái dầm...tôi đã đến bế trẻ nịnh trẻ dắt từng trẻ ra nhà vệ sinh để trẻ đi bô, dần trẻ quen dần đã tự biết đi vệ sinh đúng giờ, đúng nơi quy đinh mà không cần cô phải nhắc nhở. Trong hoạt động học: có những trẻ chỉ ngồi một góc không tham gia vào bất cứ hoạt động gì của lớp. Tôi đã đến động viên trẻ đó bằng cách: Tổ chức các cuộc thi có thưởng, nhờ một trẻ khác cùng ra động viên trẻ đó...từ đó kích thích sự hứng thú của trẻ. Và kết quả là trẻ đó đã tham gia các hoạt động cùng cô và các bạn, dần dần còn tham gia một cách nhiệt tình hơn. Tạo được nề nếp học tập rất tốt cho lớp tôi khiến cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao. Từ những tình cảm và tình yêu thương của cô trẻ đi học vui vẻ hơn ít khóc nhè, nghiêm túc thực hiện nền nếp của lớp. Hãy tạo ra một lớp học trong sự yêu thương chan hòa lẫn nhau như mẹ và con trong một gia đình. Để trẻ cảm nhận được sự yêu thương, bao dung trìu mến của cô giáo thì hầu hết trẻ đều thực hiện theo lời cô dạy bảo. 3. Biện pháp 3. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để có biện pháp thích hợp kịp thời. Trước kia, tôi thường rèn luyện nề nếp của trẻ một cách đồng loạt mà không tìm hiểu rõ tâm sinh lý của từng trẻ, nên kết quả không cao. Qua nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu một số biện pháp của chị em đồng nghiệp ở cùng cơ quan cũng như các bạn bè đồng nghiệp ở đơn vị trường bạn tôi nhận thấy việc nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi 24 - 36 tháng là một yếu tố vô cùng quan trọng để tìm ra những biện pháp thích hợp trong việc rèn nề nếp thói quen cho trẻ. Với trẻ lứa tuổi 24 - 36 tháng, các bé đang được sống trong vòng tay của gia đình, được sự cưng chiều của mọi người trong gia đình, trẻ luôn được ông bà, bố mẹ "làm hộ" mọi việc thay cho tự làm. Do vậy khi đến lớp, làm quen với môi trường mới trẻ sẽ không khỏi ngỡ ngàng và có những phản ứng về tâm sinh lý.Nắm được điều này tôi đã cố gắng tìm hiểu tâm sinh lý của từng trẻ qua những người thân trong gia đình trẻ, đồng thời tôi luôn chú ý quan sát trẻ 9 mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động trên lớp để lập ra kế hoạch bồi dưỡng đối tượng theo sự phân nhóm và sắp xếp chỗ ngồi cho từng cháu một cách hợp lý: - Trong giờ hoạt động có chủ đich hay các hoạt động ngoài trời, hoạt động góc tôi thường xếp: + Trẻ nhút nhát ngồi cạnh trẻ nhanh nhẹn, mạnh dạn. + Trẻ khá ngồi cạnh trẻ trung bình. + Trẻ hiếu động, cá biệt hay nói chuyện ngồi cạnh trẻ ngoan, ngồi cạnh cô giáo, để dễ quan sát và tiện cho việc điều hành trẻ tốt hơn. Hình ảnh 5: Hình ảnh trẻ ngồi ngoan hoạt động với đồ vật - Trong giờ ăn: Tôi xếp những trẻ ăn ngoan , ăn tốt ngồi một bàn, trẻ nào lười ăn, ăn còn hay bốc nhót ngồi một bàn để tôi tiện quản lý và nhắc nhở , động viên trẻ kịp thời. - Trong giờ ngủ: Tôi cũng xếp những trẻ nào ngủ ngoan nằm một dãy. Những trẻ nào hay quấy, ngủ hay giật mình nằm riêng để tiện quan sát và không làm ảnh hưởng tới các bạn khác trong lớp. Ngoài ra, tôi sẽ tích cực biểu dương những trẻ khá giỏi, để trẻ đó tiếp tục phát huy, còn những trẻ yếu kém thì noi gương với những trẻ nhút nhát, yếu kém tôi khuyến khích, động viên trẻ trả lời các câu hỏi, cùng tham gia các hoạt động tập thể bằng hình thức thi đua có thưởng. Đặc biệt tôi thường xuyên uốn nắn và rèn luyện cho trẻ cách giao tiếp, cách xưng hô với cô giáo và trả lời cô giáo khi cần thiết, bằng những hình thức trên tôi đã dần ổn định đưa trẻ vào nề nếp thói quen trong mọi hoạt động, ở mọi lúc mọi nơi. Từ đó trẻ dần dần làm quen và đi vào nề nếp một cách nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao. Khi đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý từng trẻ tôi nhận thấy tính cách trẻ lớp tôi rất phức tạp: Trẻ thì nhút nhát, trẻ thì nhanh nhẹn mạnh dạn, trẻ lại quá hiếu động, lì lợm, trẻ thì tiếp thu bài tốt nhưng có trẻ tiếp thu bài quá chậm... Vì thế tôi đã ghi tên trẻ theo từng đặc điểm đó vào sổ để tiện theo dõi và có biện pháp hình thức giáo dục cho hợp lý. Từ đó nề nếp trẻ lớp tôi dần dần tiến bộ hẳn: không còn trẻ quá nhút nhát, cá biệt, lì lợm nữa. 4. Biện pháp 4. Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và tích cực làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ hoạt động. - Trước đây, tôi nghĩ môi trường giáo dục không có tác dụng cho việc rèn luyện nề nếp cho trẻ. Vì thế môi trường lớp học của tôi chưa khoa học, chưa phong phú, đồ dùng đồ chơi còn sơ sài, không gây được sự hứng thú cho trẻ trong các hoạt động, không kích thích được tính sáng tạo của trẻ, khiến trẻ tiếp thu bài chậm, trẻ không năng động sáng tạo. 10 Đó chính là sai lầm lớn của tôi. Qua thực tế tôi nhận thấy rằng: Muốn đưa chất lượng của việc rèn luyện nề nếp cho trẻ tốt hơn thì bản thân tôi phải tích cực xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và không ngừng sưu tầm những nguyên vật liệu sẵn có để làm đồ dùng đồ chơi sao cho đẹp, sáng tạo, hấp dẫn, nhưng phải đảm bảo an toàn, sử dụng hợp lý và phù hợp với nội dung với độ tuổi. Đồ dùng đồ chơi sắp xếp gọn gàng vừa tầm với trẻ để thu hút trẻ vào mọi hoạt động một cách thoải mái và tự tin hơn. Môi trường học tập nơi đáp ứng tốt nhất cho mục đích chăm sóc giáo dục trẻ. Như chúng ta đều biết: Trẻ mầm non nói chung và đặc biệt là trẻ 24- 36 tháng tuổi nói riêng, môi trường học tập có vị trí to lớn trong việc nhận thức của trẻ, vì môi trường học tập là nơi để trẻ tiếp xúc hằng ngày, hàng giờ. Tôi đã thay đổi lại môi trường học tập trong lớp tạo ra môi trường đẹp hấp dẫn trẻ bằng cách tôi tìm hiểu yêu cầu của các chủ đề căn cứ vào cấu trúc phòng học của lớp mình đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi để tạo môi trường đẹp, phong phú và hấp dẫn xung quanh trẻ. Để gây ấn tượng cho trẻ tôi sưu tầm thiết kế các hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu có mầu sắc đẹp, bố cục hợp lý và đặt tên thật ngộ nghĩnh phù hợp với tâm lý của trẻ. Trong giờ đón trẻ: Khi trẻ mới nhập lớp đang còn khóc vì nhớ bố mẹ, ông bà... tôi bế cháu lại các góc chơi xem bức tranh ảnh hướng vào các câu chuyện, bài thơ, xem đồ chơi : Búp bê, con vật, những đồ dùng âm nhạc, đồ dùng nấu ăn.... Để trẻ tập trung vào các đồ chơi mà quên đi nỗi nhớ nhà bằng cách tôi có thể đàm thoại với trẻ, chỉ vào đồ chơi và hỏi: Đây là con gì ? Nó đang làm gì?...cô kể (đọc) trích đoạn một câu chuyện (bài thơ) nào đó có liên quan đến đồ chơi đang cho trẻ quan sát (Ví dụ: bài “Đàn gà con”) .... - Tôi còn chú trọng làm nhiều đồ dùng dạy học đẹp, phong phú có tính sáng tạo ở các góc lớp như: Góc vườn cổ tích, Bé với hình và màu, Hoạt động với đồ vật, Thực hành cuộc sống....để gây được sự hứng thú của trẻ khi đến lớp. Hình ảnh 6: Hình ảnh góc Thực hành cuộc sống Sử dụng dối dạy trẻ trong các tiết kể chuyện; sử dụng mô hình tự làm gây sự tò mò, hứng thú cho trẻ như: cho trẻ quan sát khám phá mô hình các phương tiện giao thông, vườn cây, vườn rau....Đồng thời linh hoạt sử dụng các phương pháp truyền đạt kiến thức cho trẻ sao cho hấp dẫn và phù hợp nhất để gây được sự hứng thú cho trẻ trong tiết học. Các đồ dùng đồ chơi tôi làm đều gắn liền với các chủ đề sự kiện trong năm học, và có tính sử dụng rất cao. Ngoài ra tôi còn tích cực tham gia đầy đủ các cuộc thi làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo ở cấp trường, cấp huyện để có cơ hội học hỏi bạn bè đồng nghiệp nhiều hơn. 11 Hình ảnh 7: Hình ảnh các loại rối ở Góc vườn cổ tích Tôi xây dựng môi trường học tập bằng việc sắp xếp thành các góc chơi để trẻ dễ dàng lựa chọn cũng như lấy đồ dùng thuận tiện. Các đồ dùng đồ chơi trong các góc được sắp xếp những bài tập có tính mục đích rõ rệt, mà khi cầm vào đồ dùng trẻ có thể tự tương tác và thực hành kỹ năng cho trẻ, giúp trẻ hứng thú đến lớp hơn, tiếp thu lĩnh hội kiến thức nhanh hơn, tạo cho trẻ tính tự tin và mạnh dạn hơn. Đó là yếu tố góp phần quyết định chất lượng và khả năng hoạt động của trẻ, đồng thời tạo cho trẻ có nề nếp thói quen tốt hơn trong các hoạt động. 5. Biện pháp 5. Rèn luyện nề nếp thường xuyên cho trẻ trong mọi hoạt động ở mọi lúc mọi nơi. Trước đây, tôi chưa biết lồng ghép tích hợp rèn nề nếp cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi nên việc hình thành thói quen nề nếp cho trẻ còn thụ động và hạn chế. Giờ đây tôi nhận thấy rằng: Việc rèn luyện nề nếp cho trẻ một cách thường xuyên trong mọi hoạt động, ở mọi lúc mọi nơi là rất cần thiết. Với tâm lý trẻ lứa tuổi nhà trẻ là dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc tạo nề nếp thói quen cho trẻ phải được thực hiện thường xuyên và lặp đi lặp lại. Dựa vào thực tế của lớp và đặc điểm tâm sinh lý đó của trẻ, hàng ngày tôi tận dụng thời gian để rèn nề nếp thói quen cho trẻ ở lớp tôi trong mọi hoạt động: từ giờ đón trẻ, giờ trả trẻ, giờ tham gia các hoạt động học, giờ vui chơi, giờ ăn, giờ ngủ, vệ sinh... Thực tế các con còn rất bé, chưa có ý thức được như các anh chị lớn, các con rất thích được tập làm một số việc tự phục vụ. Vì thế tôi thường năm bắt mọi cơ hội để trẻ tự mình làm một số công việc nhẹ nhàng phù hợp với khả năng của trẻ như: + Khi trẻ đến lớp tôi thường ân cần trò chuyện với trẻ: “Hôm nay con được ai đưa đến lớp đây? Con khoanh tay chào mẹ đi nào,thế con đang đi đôi dép màu gì, con tự cất lên giá dép giúp cô đi”; hay: “Ai mua cho con ba lô mà đẹp thế? Con cất giúp cô lên tủ đồ nào”... Hình ảnh 8: Hình ảnh cô hướng dẫn trẻ cất ba lô vào tủ để đồ. + Trong bữa ăn, tôi thường khuyến khích, động viên trẻ ăn hết xuất, trong giờ ăn thì tôi hỏi trẻ: “Tay phải con đang cầm gì , tay trái con đang giữ gì?”, nhắc trẻ ăn gọn gàng, tự nhặt cơm rơi vào đĩa, ăn song thì con mang bát lên cất đúng vào nơi quy định giúp cô... + Thông qua hoạt động ngoài trời: Khi tôi cho trẻ quan sát cây xanh, thấy có lá rụng dưới sân cô nhắc trẻ nhặt vào thùng rác bằng một hoạt động: “Thi xem bạn nào nhặt được nhiều lá nhất và biết bỏ vào thùng rác, bạn đó sẽ được thưởng một bông hoa”. Những hành động tuy rất nhỏ đó nhưng đã giúp trẻ hình thành một số nề nếp thói quen tốt ban đầu cho mình. 12 - Trong hoạt động học, hoạt động vui chơi: Tôi cố gắng tích hợp, lồng ghép những bài hát, bài thơ, câu chuyện, trò chơi có nội dung nói về nề nếp thói quen sẽ giúp trẻ tự liên hệ tới bản thân dần dần hình thành những thói quen tốt. Hình ảnh 9: Hình ảnh trẻ tham gia hoạt động ngoài trời + Rèn luyện cho trẻ thói quen biết chào hỏi lễ phép thông qua các hoạt động: kỹ năng sống, hoạt động âm nhạc, hoạt động làm quen với văn học.... Ví dụ: Thông qua bài hát, bài thơ, câu chuyện như: “Lời chào buổi sáng”, “Mẹ yêu không nào”, “Lời chào”, “Miệng xinh”... cô giáo sẽ giáo dục trẻ cách chào hỏi lễ phép với ông bà, bố mẹ từ đó trẻ sẽ có nề nếp thói quen chào hỏi. Hay trong năm học này, ngay từ đầu năm học tổ chuyên môn khi xây dựng kế hoạch đã đưa hoạt động kỹ năng sống vào trong kế hoạch giáo dục ở các độ tuổi từ nhà trẻ đến mẫu giáo. Thông qua các hoạt động kỹ năng sống giáo viên có thể rèn nề nếp cho trẻ rất hiệu quả. Ví dụ: Kỹ năng cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định sẽ giúp trẻ có thói quen tự cất đồ dùng cá nhân của mình đúng nơi quy định, kỹ năng chào hỏi lễ phép sẽ giúp trẻ hiểu và biết cách chào hỏi lễ phép với mọi người xung quanh. Hình ảnh 10: Trẻ tham gia hoạt động KNS “Dạy trẻ cách chào hỏi lễ phép” + Khi trẻ chơi đồ chơi xong, để khuyến khích tính,nhanh nhẹn, tự giác của trẻ, tôi cho trẻ cùng đọc bài thơ “Giờ chơi” và phát động cuộc thi: các tổ thi đua nhau xem tổ nào cất đồ chơi nhanh nhất cuối tuần sẽ được thưởng quà. + Khi chơi và cất dọn đồ dùng đồ chơi xong, chuẩn bị đến gời ăn cơm tôi nhắc trẻ thật khéo léo qua bài thơ: “Rửa tay sạch” + Hoặc nhắc trẻ biết gữ gìn vệ sinh sạch sẽ qua bài thơ: “Chùi mũi”. Từ đó rèn thói quen vệ sinh cho trẻ: trẻ biết phải rửa tay trước khi ăn cơm và biết lau mũi khi bị bẩn - Khi trẻ chuẩn bị ăn cơm, tôi lại giáo dục trẻ khéo léo qua bài thơ: “Giờ ăn”. - Khi trẻ lên giường tôi cho cả lớp đọc bài thơ : “ Giờ ngủ”... Qua những việc làm này,vừa giúp trẻ phát triển vốn từ, đồng thời giúp trẻ rèn luyện ý thức ban đầu , đó là thao tác kỹ năng lao động tự phục vụ bản thân. Bản thân tôi luôn thực hiện đúng lịch sinh hoạt một ngày của trẻ: giờ nào việc ý,thực hiện nghiêm túc kế hoạch chương trình chăm sóc giáo dục của tổ chuyên môn. Nhờ đó mà trẻ lớp tôi dần dần hình thành được nề nếp một cách nhẹ nhàng không gò bó. 6. Biện pháp 6. Tích cực tuyên truyền vận động, phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường. Trước đây tôi ít trao đổi với các bậc phụ huynh về tình hình học tập, nề nếp của các cháu lớp mình, nên không nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của 13 họ. Song qua quá trình công tác tôi nhận thấy để hoàn thành tốt công tác chăm sóc và giáo dục trẻ thì cần có sự phối hợp và hỗ trợ cho nhau giữa gia đình và nhà trường. Và muốn thực hiện tốt sự phối hợp đó thì tôi cần mạnh dạn chia sẻ suy nghĩ với phụ huynh về tầm quan trọng của việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, để từ đó phụ huynh có nhận thức đúng đắn và xác định vai trò của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. Chúng ta vẫn thường dạy trẻ: “Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo, khi đến trường cô giáo như mẹ hiền”. Hai người mẹ đó rất quan trọng đối với trẻ và sự kết hợp của hai người mẹ là rất cần thiết. Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non từ đó có sự giáo dục toàn bộ giữa gia đình và nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết tôi thấy rằng tất cả mọi khó khăn trong học tập không thể thiếu được vai trò giải quyết khó khăn của phụ huynh vì thế ngay từ đầu năm học để phụ huynh hiểu thêm về các hoạt động của trẻ trong trường mầm non. Vì thế để phối hợp giáo dục trẻ với các bậc phụ huynh, đầu năm tôi tổ chức mời phụ huynh đến họp để bàn bạc trao đổi về phương pháp giáo dục trong năm học mới và rút ra kinh nghiệm từ năm học cũ. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã thông báo đặc điểm tình hình trẻ lớp mình, nhấn mạnh đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lứa tuổi này: nhiều trẻ rất cá tính, hiếu động, bướng bỉnh, thích làm theo sở thích của mình...., đồng thời tôi cũng trao đổi với họ về đặc điểm công việc của các cô có những khó khăn vất vả áp lực để phụ huynh chia sẻ đồng cảm, quan tâm phối kết hợp cùng đưa ra những biện pháp uốn nắn trẻ tốt nhất. Hình ảnh 11: Hình ảnh họp phụ huynh đầu năm Để phối kết hợp với phụ huynh trong việc chăm sóc giáo dục trẻ thì việc đâu tiên tôi làm là tìm hiểu về nghề nghiệp của bố mẹ trẻ tôi đã nắm được nghề của bố mẹ trẻ từ đó tôi có kế hoạch gặp gỡ và thường xuyên trao đổi về tình hình sức khoẻ của trẻ, tình hình học tập của trẻ, đặc biệt qua các buổi đón trả trẻ tôi đã trao đổi trực tiếp với các bậc phụ huynh về trang thiết bị đồ dùng đồ chơi mà nhà trường đã cấp nhu cầu lớp còn thiếu những gì. Qua trao đổi nhờ các bậc phụ huynh sưu tầm những vật liệu hỏng bỏ đi để gom lại mang về làm đồ chơi tự tạo để phục vụ trong các hoạt động của trẻ. Hoặc tôi có thể vận động các bậc phụ huynh cùng tham gia đóng góp thêm các loại đồ dùng hoặc sưu tầm tranh ảnh, những bài thơ, câu chuyện có nội dung phù hợp để phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ đạt kết quả tốt. Hình ảnh 12: Cô giáo trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm học tôi và các giáo viên trong lớp đã xây dựng tốt góc tuyên truyền tại lớp có tranh ảnh khẩu hiệu được trang trí ngoài lớp 14 hướng vào sự tập trung chú ý của phụ huynh từ đó có thể tuyên truyền để phụ huynh biết được hoạt động một ngày của trẻ khi đến trường. Ngoài ra, thông qua ứng dụng phần mềm Zalo tôi lập nhóm lớp để có thể cập nhật đến các bậc phụ huynh những hoạt động hàng ngày của các con bằng cách chụp hình gửi vào nhóm lớp để các bậc phụ huynh thấy rằng khi đến lớp các con được tham gia rất nhiều hoạt động khác nhau và thông các hoạt động có thể rèn luyện nề nếp thói quen cho các con. Qua đó giúp phụ huynh hiểu rõ hơn về các phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ mà các cô giáo đang tiến hành hàng ngày ở trường lớp. Nhờ học hỏi kinh nghiệm của một số đồng nghiệp mà giờ đây tôi có thể khẳng định rằng: Để thực hiện tốt việc rèn luyện nề nếp cho trẻ thì các bậc phụ huynh giữ một vai trò quan trọng. Do vậy tôi đã tuyên truyền với các bậc phụ huynh về sự cần thiết của việc rèn luyện cho trẻ ở lứa tuổi này. Từ đó phụ huynh cùng phối hợp với giáo viên để nắm bắt đặc điểm tình hình của trẻ, tìm nguyên nhân để có biện pháp thích hợp kịp thời uốn nắn trẻ. Đồng thời trao đổi với cha mẹ trẻ để họ rèn luyện thêm cho trẻ khi ở gia đình, giúp việc rèn luyện nề nếp của trẻ theo khoa học và đi đến thống nhất trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ. V. Kết quả thực hiện Qua một năm học tôi kiên trì thực hiện một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ, đến nay trẻ đã thực sự yêu mến cô giáo, các bạn và thích đi học, có nề nếp tốt trong mọi hoạt động, trẻ có tác phong mạnh dạn và tự tin hơn, cụ thể: - Trẻ rất thích đi lớp, biết chào hỏi lễ phép với cô giáo, chào ông bà bố mẹ, người lớn tuổi. - Trẻ có hành vi đạo đức tốt, không nói tục chửi bậy, biết vâng lời ông bà, cha mẹ, không đánh bạn, biết nhường nhịn bạn bè khi chơi, biết cảm ơn khi nhận được quan tâm giúp đỡ của người khác và biết xin lỗi khi mình mắc lỗi. - Đặc biệt các cháu đã biết tự mình làm một số việc tự phục vụ: + Tự cất đồ dùng cá nhân khi tới lớp, biết vứt rác đúng nơi quy định. + Tự xúc cơm ăn, tự uống nước, uống sữa...rất gọn gàng sạch sẽ. + Biết gọi người lớn khi có nhu cầu đi vệ sinh, tự cất đồ chơi khi chơi xong, biết đọc thơ, hát bi bô cho ông bà, bố mẹ nghe. + Biết tự lấy gối lên giường ngủ rất ngoan . Vì vậy các bậc phụ huynh rất vui, càng yên tâm hơn khi gửi con đến lớp . Khiến họ càng quan tâm hơn đến việc học tập của con em mình. Từ đó giúp tôi thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ một cách dễ dàng và đạt hiệu quả cao. 15 Để minh chứng cho kết quả đạt được của các cháu rõ ràng hơn, dưới đây là bảng so sánh về việc thực hiện một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ giữa 2 giai đoạn: Trước khi áp dụng (đầu năm) và sau khi áp dụng (cuối năm): Kết quả đầu năm Kết quả cuối năm Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt TS Tiêu chí đánh giá Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ trẻ SL SL SL SL % % % % Trẻ đi học đều 24 13 54,2 11 45,8 20 83,3 4 16,7 Trẻ biết chào hỏi 24 10 41,7 14 58,3 21 87,5 3 12,5 Trẻ hứng thú tham 24 10 41,7 14 58,3 22 91,7 2 8,3 gia các hoạt động Trẻ biết tự cất đồ 24 11 45,8 13 54,2 23 95,8 1 4,2 dùng đồ chơi Trẻ biết ăn, ngủ,vệ 24 12 50 12 50 23 95,8 1 4,2 sinh đúng giờ. Bảng 2: Kết quả đối chứng so sánh trước và sau khi thực hiện đề tài Nhìn vào bảng so sánh trên, ta thấy kết quả việc rèn nề nếp của trẻ ở giai đoạn cuối năm(sau khi áp dụng những biện pháp trên) đã có sự tăng lên đáng kể: Mọi nề nếp, trẻ đều đạt từ 83% trở lên. Đặc biệt là số trẻ biết tự cất đồ dùng đồ chơi, biết ăn, ngủ,vệ sinh đúng giờ đạt tới 95,8%. Đó chính là niềm động viên, khích lệ để tôi cố gắng hơn nữa trong năm học tiếp theo. Điều đó chứng tỏ rằng việc áp dụng những biện pháp mới mà tôi đưa ra đã góp phần nâng cao chất lượng cho việc chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và việc rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non tôi công tác nói riêng. 16 PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. Kết luận Từ kết quả nghiên cứu và thực hiện trên tôi rút ra một số kết luận sau: - Việc đưa ra một số biện pháp rèn nề nếp cho trẻ là hết sức cần thiết và phù hợp vời mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là với trẻ 24- 36 tháng tuổi, lứa tuổi đang bắt đầu hình thành và phát triển nhân cách đầu tiên. - Giáo viên phải thường xuyên học tập bằng nhiều hình thức như bồi dưỡng thường xuyên, tập huấn tham khảo tài liệu chuyên nghành, học hỏi đồng nghiệp để có liến thức hiểu biết sâu rộng trong chuyên môn, tìm tòi nghiên cứu các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ để nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. - Giáo viên phải nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. - Giáo viên cần có trách nhiệm chăm sóc giáo dục trẻ với tấm lòng “cô giáo như mẹ hiền” mong cho con ngày một tiến bộ, bất cứ một cô giáo nào cũng không ngừng nghỉ tìm tòi, sáng tạo ra nhiều cách thức để trẻ tập trung học và chơi nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá của trẻ, từ đó tác động trực tiếp đến việc lĩnh hội kiễn thức, kỹ năng sống ở trẻ. Muốn nhìn trẻ phát triển toàn diện theo tôi cần xây dựng biện pháp giáo dục hay, mới lạ, cuốn hút trẻ để hình thành cho trẻ nề nếp thói quen tốt: chào hỏi lễ phép với cô giáo, bố mẹ, ông bà và mọi người xung quanh; Trẻ có kỹ năng tự phục vụ: cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, đi vệ sinh đúng nơi quy định...; Trẻ có nề nếp ăn, ngủ tốt đúng thời gia quy định... - Bản thân giáo viên luôn là tấm gương tốt, mẫu mực trong mọi hoạt động: Lời ăn, tiếng nói, việc làm; tích cực làm nhiều đồ dùng đồ chơi tự tạo các góc. - Rèn luyện cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Đặc biệt quan tâm đến trẻ chậm, trẻ cá biệt, không phân biệt giữa các trẻ. - Giáo viên trao đổi thường xuyên với phụ huynh những gì trẻ làm được và chưa làm được để cùng tìm ra nguyên nhân và cách dạy trẻ tốt nhất. - Giáo viên luôn tạo cơ hội cho trẻ tự làm các việc phù hợp với khả năng. Có như vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ nói chung, việc rèn luyện nề nếp cho trẻ 24- 36 tháng tuổi nói riêng mới đạt hiệu quả cao. II. Khuyến nghị - Kính đề nghị phòng giáo dục tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên về một số kinh nghiệm rèn luyện nề nếp cho trẻ nói chung, trẻ 24-36 tháng nói riêng. 17 - Nhà trường luôn tạo điều kiện để tôi được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, chuyên đề do phòng giáo dục tổ chức; phát động các cuộc thi giáo viên giỏi, thi làm đồ dùng đồ chơi tự tạo hàng năm.... - Trên đây là “Một số biện pháp rèn luyện nề nếp cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non” mà tôi đã nghiên cứu và thực hiện trong năm học này và những năm tiếp theo. Do đề tài được áp dụng trong phạm vi hẹp ở một nhóm lớp, vì thế một số kinh nghiệm tôi đưa ra không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Rất mong các cấp lãnh đạo đóng góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin trân thành cảm ơn! Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm do tôi tự viết, không sao chép nội dung của người khác. 18 PHẦN BỐN: TÀI LIỆU THAM KHẢO STT Tên tài liệu tham khảo Nhà xuất bản 1 Phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ Nhà xuất bản giáo dục. 24- 36 tháng tuổi 2 Cuốn “Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ mầm Nhà xuất bản giáo dục. non” 3 Cuốn “Tâm lí học trẻ lứa tuổi mầm non” Nhà xuất bản Đại học sư phạm. 4 Tham khảo các nguồn video trên Youtube, Google. 5 Tập san và tạp chí giáo dục mầm non. 6 Giáo trình tâm lý trẻ em từ 0- 6 tuổi Nhà xuất bản Đại học sư phạm 7 Tuyển tập những trò chơi- câu đố thơ- Nhà xuất bản giáo dục truyện cho trẻ từ 24-36 tháng tuổi Việt Nam 19 PHẦN NĂM: DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH CHỨNG Hình ảnh 1: Hình ảnh giáo viên tham dự hoạt động giáo dục mẫu cấp trường (Minh chứng cho biện pháp 1- trang 6) Hình ảnh 2: Học tập đồng nghiệp trong buổi sinh hoạt chuyên môn (Minh chứng cho biện pháp 1- trang 6) 20 Hình ảnh 3: Cô chăm sóc trẻ từng bữa ăn (Minh chứng cho biện pháp 2- trang 7) Hình ảnh 4: Hình ảnh cô vỗ về chăm sóc giấc ngủ cho trẻ (Minh chứng cho biện pháp 2- trang 8)
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_luyen_ne_nep_cho.doc

