Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non
1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2024-2025 Họ và tên Ngày tháng Nơi công Chức danh Trình độ Tên sáng năm sinh tác chuyên kiến môn Triệu Thị 23/03/1991 Trường Giáo viên Đại học Một số giải Thủy mầm non pháp xây ba vì dựng môi trường học tập hứng thú, sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến (nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và vấn đề mà sáng kiến giải quyết) Trẻ mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú, sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày nhất tại trường mầm non Ba Vì - Mô tả bản chất của sáng kiến: Giải pháp xây dựng một môi trường học tập đầy hứng thú và sáng tạo là tạo ra một không gian và điều kiện để trẻ có thể phát huy tối đa khả năng học tập, sáng tạo và phát triển toàn diện. Hứng thú là yếu tố quan trọng là động lực chính để trẻ tham gia vào các hoạt động học. Khi trẻ cảm thấy thú vị và vui vẻ, chúng sẽ tham gia tích cực vào các hoạt động, từ đó giúp trẻ tiếp thu kiến thức tốt hơn. Cụ thể, các bước tôi thực hiện trong bài sáng kiến của mình là tập trung vào các giải pháp để tháo gỡ các các vấn đề đang gặp phải, gồm có bốn giải pháp. Giải pháp 1: Xây dựng nội dung sát với năng lực của trẻ trên lớp Là một yếu tố quan trọng giúp tôi thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với năng lực của trẻ không chỉ giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn tạo ra môi trường học tập hứng thú, không tạo áp lực đó là bước đầu tiên và là nguyên tắc cần chú trọng khi xây dựng nội dung. Kết hợp đánh giá năng lực trẻ với 4 yếu 2 tố: năng lực nhận thức, vận động, khả năng giáo tiếp, cảm xúc và xã hội kết từ đó lấy cơ sở để phân chia nhóm trẻ trong lớp. Giải pháp 2: Đổi mới và đa dạng trong phương pháp đặt câu hỏi Là một phương pháp quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong các hoạt học với trẻ, việc đặt câu hỏi đúng cách có thể kích thích sự tò mò, tư duy, khuyến khích trẻ tham gia vào cuộc trò chuyện, và hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ cũng như khả năng giải quyết vấn đề của trẻ. Có nhiều cách để đặt câu hỏi với trẻ như câu hỏi mở, hình ảnh, khám phá, kết nối, dự đoán, cảm xúc, đóng gói tình huống tưởng tượng, đánh giá, trò chơi mỗi dạng câu hỏi đều có những điểm hay giáo viên cần linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp đặt câu hỏi trong các nội dung phù hợp và phát huy được hiệu quả cao nhất. Giải pháp 3: Tích cực thiết kế trò chơi hứng thú đối với trẻ Trò chơi có vai trò đặc biệt quan trọng nó phương tiện để trẻ học hỏi, bắt chiếc những hành động, mô phỏng lại cuộc sống của người lớn qua các vai chơi, hành động chơi, khám phá và phát triển nhiều kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Ở trường mầm non hoạt động vui chơi chơi được diễn ra thường xuyên xen lẫn hoạt động học, hoạt động ngoài trời và có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi vậy cần thiết kế những trò chơi: Giúp trẻ phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy và sáng tạo, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, vận động, phát triển trí tuệ, sáng tạo, âm nhạc, trò chơi cảm giác, truyền bóng, tìm đồ vật bằng nhắm mắt. Giải pháp 4: Tạo không gian học tập linh hoạt cho trẻ Là thiết lập không gian học tập đa dạng trong phòng học mở rộng cơ hội học tập và trải nghiệm cho trẻ giúp các con cảm nhận góc học tập sinh động, thân thiện. Phương pháp này không chỉ tối ưu hóa diện tích sử dụng mà còn mang lại môi trường học phong phú kích thích sự học hỏi và vui chơi, trong không gian này trẻ được khám phá, học tập hiểu quả vượt ra khỏi khuôn khổ của lớp học tuyền thống. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Điều kiện cơ sở vật chất: Lớp học cần có sự thiết kế thoải mái, sử dụng màu sắc tươi sáng, đồ nội thất đa dạng, dễ dàng thay đổi để phù hợp với các hoạt động khác nhau, trang thiết bị như máy tính, bảng tương tác, các thiết bị hỗ trợ giảng dạy (như máy chiếu, loa, thiết bị kết nối internet), Tài liệu học tập phong phú sách, bài giảng, video, phần mềm giáo dục hỗ trợ việc học tập sáng tạo và hứng thú. Điều kiện về con người: Giáo viên dụng các phương pháp học chủ động như học qua trò chơi, học qua dự án, thảo luận nhóm, hay học qua các thí nghiệm thực tế, thiết kế bài giảng không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tạo cơ hội cho học sinh tự do thể hiện ý tưởng, giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, cần có đội ngũ giáo 3 viên năng động, sáng tạo, có khả năng thiết kế bài học linh hoạt và biết cách tạo môi trường học tập khuyến khích sáng tạo. Điều kiện về tâm lý trẻ: Tạo môi trường mà trẻ cảm thấy tự do để khám phá, tìm tòi và học hỏi mà không sợ sai, khuyến khích trẻ làm việc nhóm chia sẻ ý tưởng và học hỏi từ nhau tạo ra không gian học tập tích cực cởi mở. Điều kiện về kinh tế: Cần có kinh phí mua sắm các trang thiết bị dạy học máy chiếu, tivi, các đồ dùng đa dạng bền chắc phù hợp lứa tuổi của trẻ. -Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở) Tăng cường sự hứng thú trong học tập: Giúp học sinh yêu thích học hơn, khuyến khích sự tự giác và chủ động. Phát triển khả năng sáng tạo và tư duy phản biện: Khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn, tư duy khả năng phản biện. Tăng cường khả năng làm việc nhóm: Hợp tác và giao tiếp, phát triển kỹ năng xã hội. Tăng cường sự tự tin và động lực: có cơ hội thể hiện ý tưởng và sáng tạo cá nhân, từ đó nâng cao lòng tự trọng và sự tự tin, thử nghiệm các ý tưởng mới, từ đó thúc đẩy sự dám nghĩ, dám làm. Tăng cường mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh: Áp dụng phương pháp sáng tạo, họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn đóng vai trò như người hỗ trợ học sinh khám phá và phát triển, trẻ và giáo viên tạo dựng mối quan hệ tin tưởng và hợp tác tốt hơn. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Không có Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Vì, ngày 20 tháng 3 năm 2025 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Triệu Thị Thủy 4 PHẦN THỨ NHẤT. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến Việc khơi dậy sự hứng thú cho trẻ trong các hoạt động học là yếu tố quan trọng giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, vui vẻ và hiệu quả. Tính cấp thiết của việc tạo hứng thú cho trẻ trong các hoạt động học không chỉ xuất phát từ việc phát triển khả năng học tập mà còn từ việc xây dựng những nền tảng tâm lý, xã hội cho trẻ. Cùng với đó, phương pháp này cũng góp phần giúp trẻ phát triển tình yêu với việc học, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề và phát huy sự sáng tạo, độc lập. Hứng thú là yếu tố quan trọng là động lực chính để trẻ tham gia vào các hoạt động học. Khi trẻ cảm thấy thú vị và vui vẻ, chúng sẽ tham gia tích cực vào các hoạt động, từ đó giúp trẻ tiếp thu kiến thức tốt hơn. Một khi trẻ cảm thấy hứng thú, chúng sẽ tự mình tìm tòi, khám phá và chủ động học hỏi, điều này giúp trẻ phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Việc tạo ra một môi trường học tập vui vẻ, dễ tiếp cận và đầy kích thích sẽ giúp trẻ không cảm thấy áp lực trong việc học. Khi trẻ cảm thấy vui vẻ và thoải mái trong quá trình học, chúng sẽ dễ dàng ghi nhớ và áp dụng kiến thức. Các hoạt động học tập không chỉ giúp trẻ củng cố kiến thức mà còn khuyến khích trẻ suy nghĩ, phân tích và giải quyết các vấn đề theo cách sáng tạo. Trái lại, nếu trẻ không được khơi dậy sự hứng thú, các hoạt động học sẽ trở nên nhàm chán, dẫn đến việc trẻ không muốn tham gia, thậm chí có thể sinh ra tâm lý sợ hãi việc học. Một trong những lợi ích lớn nhất của việc khơi dậy sự hứng thú trong học tập là sự phát triển toàn diện các kỹ năng của trẻ. Trong môi trường mầm non, trẻ không chỉ học chữ, số mà còn học cách giao tiếp, hợp tác, chia sẻ và phát triển tình cảm. Những hoạt động học thú vị, đặc biệt là thông qua các trò chơi và bài học mang tính tương tác, giúp trẻ học được những kỹ năng xã hội quan trọng, sự phát triển lâu dài của trẻ là xây dựng tình yêu với việc học. Theo một nghiên cứu của Deci và Ryan (2000) về lý thuyết động lực tự chủ, khi trẻ cảm thấy hứng thú với một hoạt động, chúng sẽ có xu hướng tự giác tham gia vào quá trình học mà không cần phải ép buộc. Điều này giúp trẻ tiếp thu thông tin tốt hơn và ghi nhớ lâu hơn. Qủa đúng như vậy khi yêu thích học, trẻ sẽ chủ động tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ và không ngừng học hỏi chính từ đó tình yêu học tập sẽ được nuôi dưỡng, giúp trẻ duy trì đam mê học hỏi suốt cuộc đời, các bài học không còn gò bó trong khuôn khổ mà trở thành những cơ hội để trẻ bộc lộ ý tưởng, thử nghiệm và tự do thể hiện bản thân đây là trạng thái mà trẻ hoàn toàn hòa nhập vào công việc, sáng tạo và khám phá mà không bị phân tâm. Việc tạo ra sự hứng thú trong các hoạt động học cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng, 2 vì nó không chỉ giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện về cả nhận thức, cảm xúc và xã hội. Hứng thú học tập không chỉ là yếu tố tạo nên niềm vui mà còn là động lực để trẻ trở thành những người học suốt đời, sáng tạo và tự tin trong cuộc sống. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng vào việc xây dựng một môi trường học tập đầy hứng thú và sáng tạo để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện và bền vững. Với những băn khoăn trăn trở đó, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non” nhằm góp phần nhỏ bé của mình đưa việc học trở nên thú vị, sáng tạo thỏa mãn nhu cầu vui chơi, tò mò, muốn khám phá thế giới xung quanh mà vẫn đạt kết quả cao trong các hoạt động học. II. Mục tiêu của đề tài sáng kiến Tôi thực hiện đề tài này nhằm giúp tôi và các đồng nghiệp có những giải pháp cụ thể, hiệu quả trong việc tổ chức xây dựng môi trường học tập hứng thú, sáng tạo tại trường mầm non. Giúp trẻ khơi dậy niềm đam mê và sự hứng thú học tập, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, làm việc nhóm chứ không phải truyền đạt kiến thức theo cách một chiều, chủ yếu nghe giảng, các trò chơi và hoạt động thiếu tính sáng tạo và chỉ tập trung vào việc ghi nhớ, lặp đi lặp lại. Việc học chủ yếu diễn ra trong không gian lớp học, ít có cơ hội cho trẻ thực hành ngoài trời. Các hoạt động trong lớp thường không khuyến khích trẻ tưởng tượng hay thể hiện sự sáng tạo, mà thay vào đó là các bài học máy móc, đơn giản. Trong đề tài nghiên cứu này tôi muốn tạo ra một không gian, một phương pháp giảng dạy được thiết kế để kích thích sự tò mò, sáng tạo và động lực học tập của trẻ, trong một môi trường được khuyến khích, được tạo điều kiện, được phép sai lầm để tham gia tích cực vào các hoạt động, thay vì chỉ ngồi nghe giảng hoặc tiếp nhận thông tin một cách thụ động thì việc cung cấp cho trẻ một môi trường và các điều kiện thuận lợi để trẻ có thể tự do tưởng tượng, phát triển ý tưởng mới. III.Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1. Thời gian nghiên cứu: - Nghiên cứu từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025. Củng cố và thực hiện áp dụng từ tháng 9 năm 2024 tới các năm tiếp theo. 2. Đối tượng nghiên cứu Một số giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú, sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non 3. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được thực hiện tại lớp 4 tuổi B1, Trường mầm non nơi tôi công tác. 3 PHẦN THỨ HAI. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN I. Hiện trạng vấn đề 1. Với nhà trường Trường mầm non nơi tôi làm việc nằm trên địa phận xã Ba Vì một xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Trường gồm có 3 khu cách xa nhau 8-9 km với 12 phòng học và 12 nhóm lớp với 33 cán bộ giáo viên, nhân viên. Có nhiều giáo viên ở xa với các điểm trường việc đi lại khó khăn, tuy các khu cách xa nhau nhưng BGH luôn quan tâm sát sao, giáo viên luôn nhiệt tình, yêu nghề, chăm sóc giáo dục trẻ hết lòng, được phụ huynh học sinh tin tưởng. BGH nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các chuyên đề huyện, trường, lớp bồi dưỡng chuyên môn, tạo các tiết dạy để giáo viên được học tập trau rồi kiến thức. Là một trường khó khăn nên các loại đồ chơi ngoài trời hay các loại đồ chơi trong lớp chưa có nhiều, các đồ dùng theo thông tư đã được cấp lâu ngày sử dụng đã hư hỏng nhiều. Tập thể giáo viên luôn đoàn kết cùng nhau quyết tâm xây dựng trường học tiên tiến, lớp học hạnh phúc. 2. Với bản thân Bản thân tôi là một giáo viên bản địa đã gắn bó với nghề được 12 năm và đã phần nào nắm bắt, hiểu được những đặc điểm tâm sinh lí của trẻ vùng dân tộc thiểu số, năm học này 2024-2025 tôi được phân công giảng dạy lớp 4 tuổi tôi luôn nêu cao tinh thần tự học hỏi, yêu nghề, mến trẻ. Đảm bảo tuân thủ các quy định, nội quy và chính sách của trường, luôn tham gia đầy đủ các buổi họp, hội thảo, và các khóa đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng giảng dạy của bản thân, tích cực vào các hoạt động ngoại khóa, phong trào thi đua, tổ chức các sự kiện, lễ hội của trường, tạo không khí vui tươi và gắn kết trong cộng đồng trường học. Lên kế hoạch giảng dạy, tổ chức lớp học hợp lý, tạo môi trường học tập thoải mái, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm của học sinh. Điều này bao gồm việc thiết kế bài học, trò chơi, sử dụng phương pháp giảng dạy sáng tạo và xây dựng hoạt động học tập đa dạng, hợp tác với phụ huynh để đảm bảo được sự hỗ trợ kịp thời, ủng hộ trong các hoạt động phong trào của lớp trường. 3. Với trẻ Tổng số trẻ lớp tôi có 24 cháu, trong đó 11 cháu nam, 13 cháu nữ với độ tuổi đồng đều, không có cháu nào bị nói lắp, nói ngọng, đạt yêu cầu về phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mỹ, có kỹ năng tự phục vụ tốt. Trẻ thương xuyên đặt các câu hỏi về các sự vật xung quanh 4 bằng những câu hỏi “Tại sao con phải ăn rau?” “Sao lá cây có thể làm thành nhiều thứ thế cô?”,.. và mạnh dạn chia sẻ cùng cô và các bạn về những điều mà các con suy nghĩ, thể hiên cảm xúc vui, buồn của mình với bạn và cô giáo. Thích tham gia các trò chơi vận động, nghe kể chuyện, khám phá về các con vật, động bò sát, cây, thí nghiệm, cũng bắt đầu xây dựng mối quan hệ bạn bè, phân vai chơi, mặc dù tranh cãi và xung đột là điều khó tránh khỏi. Đó là những thuận lợi lớn trong quá trình thực hiện đề tài. 4. Với phụ huynh học sinh Bản thân tôi cũng như mọi giáo viên cũng là những bậc phụ huynh nên tôi càng ý thức được tầm quan trọng của việc giáo viên kết nối tốt với phụ huynh quan trọng đến nhường nào? Nhiều cha mẹ có suy nghĩ rằng trẻ con còn nhỏ đi học chỉ là trông giữ hát vài bài hát, thơ câu đố, câu truyện nên phụ huynh còn cho con đi học trưa đều, hoặc các con hay ốm vặt cũng dẫn đến việc chuyên cần đến lớp của các con, dẫn đến các con còn có tình trạng quấy khóc khi đến lớp ảnh hưởng đến việc thực hiện đề tại. Phụ huynh vì điều kiện kinh tế khó khăn, thường bận rộn với công việc, chăm sóc gia đình và các trách nhiệm cá nhân khác, khiến họ khó có thể dành thời gian tham gia đưa trẻ đến lớp đa phần đều là ông bà đưa đi lớp và thường xuyên đưa cháu đến muộn đi muộn nên việc gắn kết giữa phụ huynh và cô giáo còn gặp nhiều khó khăn. Một số hoạt động của lớp có thể yêu cầu phụ huynh có kiến thức về công nghệ như điền vào đường link, phiếu lấy ý kiến, các ứng dụng chia sẻ với phụ huynh không có đủ nền tảng, họ có thể cảm thấy tự ti hoặc khó khăn khi tham gia. 5. Khảo sát trẻ trước khi thực hiện biện pháp Một bước quan trọng để hiểu rõ nhu cầu, sở thích và mức độ hứng thú của trẻ đối với các hoạt động học tập. Việc này giúp giáo viên thiết kế chương trình có thể xây dựng các hoạt động học phù hợp. Sẽ rất thiếu sót nếu chúng ta xây dựng các hoạt động học nhưng các hoạt động đó trẻ không hào hứng, chưa có đất để cho trẻ gieo những hạt mầm sáng tạo. vì vậy theo tôi cần xây dựng kế hoach cụ thể rõ ràng. Đối với trường chúng tôi, thời gian qua vẫn luôn duy trì việc xây dựng môi trường học tập đầy hứng thú và sáng tạo cho trẻ .Tuy nhiên, vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Năm học 2024 - 2025, tôi được phân công phụ trách lớp mẫu giáo 4 tuổi. Tổng số cháu: 24 cháu đều là con em dân tộc. Bước đầu khi nghiên cứu và thực hiện biện pháp tôi tiến hành khảo sát các tiêu chí trên trẻ lớp tôi và thu được kết quả sau: 5 Bảng 1. Bảng khảo sát trẻ trước khi thực hiện đề tài: Tổng số Kết quả khảo sát Tiêu chí khảo sát trẻ Số trẻ Đạt tỷ lệ Chưa Đạt tỷ lệ đạt (%) đạt (%) Chủ động tham gia vào hoạt 15 62,5 9 37,5 động Trả lời được câu hỏi 24 13 54 11 46 Có ý tưởng giải pháp, giải 12 50 12 50 quyết vấn đề Kỹ năng làm việc nhóm 14 58,2 10 41,8 Tham ra trò chơi học tập 16 66,5 8 33,5 Nhìn vào bảng khảo sát trên tôi nhận thấy rằng hầu hết các tiêu chí chỉ đạt mức 50 -70% Số trẻ chưa đạt các tiêu chí vẫn còn chiếm gần nửa lớp, có những tiêu chí là 1/2 tổng số trẻ. Điều đó chứng tỏ rằng hiều trẻ còn chưa hứng thú, chủ động tham gia, kỹ năng, ý tưởng trò chơi chưa thu hút được trẻ dẫn đến hiệu quả giờ học còn trẻ còn phụ thuộc nhiều vào cô giáo. Mức độ nhận thức của trẻ khác nhau, nhiều trẻ còn lạ lẫm với loại hình, cách tiếp cận hoạt động, trẻ dễ dàng nhập hoạt động nhưng cũng nhanh chóng tự mất đi sự hứng thú, chú trong hoạt động. Nhất là các tiêu trí kỹ năng làm việc nhóm, ý tưởng giải pháp, giải quyết vấn đề tỷ lệ đạt còn ở mức thấp. Tôi đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau: Cách đặt câu hỏi của giáo viên còn dập khuân, cứng nhắc, câu hỏi chưa chính xác dứt khoát, nội dung chưa phù hợp có thể cho trẻ tìm hiểu các nội dung quá đơn giản trẻ đã biết gây sự nhàm chán, trẻ không chú ý. Trò chơi chỉ chọn những trò chơi đơn giản, làm dự án nửa vời, hoạt cảnh không hấp dẫn, giáo viên còn nặng về tuyên truyền, ngại tổ chức, chưa tạo được môi trường thu hút trẻ vào hoạt động, thực hiện nhưng còn mang tính hình thức, thiếu tính sáng tạo, chưa mang lại hiệu quả cao, trẻ chưa thực sự hứng thú và trải nghiệm. Một số giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tạo hứng thú cho các hoạt động, chưa hiểu hết về các ứng dụng giúp tạo các trò chơi học tập, trò chơi dân gian cách tiết kế dự án, giáo viên còn ngại tổ chức cho trẻ các hoạt động vì đồ dùng nhiều, khó kiếm, chỉ hạn chế ở những trò chơi có sẵn trong chương trình nên khi tổ chức các hoạt động học bị lặp đi lặp lại, thiếu sự đổi mới khiến trẻ không tập trung, thấy nhàm chán. Đứng trước thực trạng trên, tôi nhận thấy rằng bản thân mình phải đổi mới, phải thực sự bắt tay vào nghiên cứu nhằm tìm ra biện pháp mới để nâng cao chất lượng giáo dục, thu hút trẻ cũng như phụ huynh. 6 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 1. Giải pháp 1: Xây dựng nội dung sát với năng lực của trẻ trên lớp Xây dựng nội dung sát với năng lực của trẻ trên lớp là một yếu tố quan trọng giúp tôi thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với năng lực của trẻ không chỉ giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn tạo ra môi trường học tập hứng thú, không tạo áp lực đó là bước đầu tiên và là nguyên tắc cần chú trọng khi xây dựng nội dung. Đầu tiên lập bảng đánh giá năng lực trẻ với 4 yếu tố: năng lực nhận thức, vận động, khả năng giáo tiếp, cảm xúc và xã hội kết, hợp các thang điểm tốt (T), khá (K), trung bình (TB). Năng lực nhận Khả năng Năng lực vận Cảm xúc và Tên học sinh thức giao tiếp động xã hội T K TB T K TB T K TB T K TB Bàn Kim Dũng x x x x Đặng Kim Ngân x x x x Bạch Công Huy x x x x Triệu Yến Nhi x x x x Lý Quý Trọng x x x x Triệu Minh Ánh x x x x Lưu Mạc Nhã Đan x x x x Dương Quý Huỳnh x x x x Dương Huyền Anh x x x x Lý Khương Duy x x x x Triệu Duy Mạnh x x x x Dương Quý Quốc x x x x Triệu Đức Phúc x x x x Lý Thiên Phúc x x x x Triệu Phương Anh x x x x Triệu Khải Phong x x x x Nguyễn Ánh Dương x x x x Đỗ Ngọc Lan x x x x Lý Thị Ánh Nhi x x x x Triệu Bảo Phúc x x x x Triệu Thị Nguyệt x x x x Triệu Hương Giang x x x x Dương Hải Yến x x x x Triệu Thanh Mỹ x x x x 7 Bảng đánh giá này được thực hiện thông qua quan sát trong các hoạt động vui chơi, trò chuyện buổi sáng, làm các bài kiểm tra nhẹ nhàng vào các buổi chiều nhằm xác định những điểm mạnh và điểm cần cải thiện của trẻ. Quan sát vào bảng cho ta thấy có 7/24 cháu đạt tốt trên 4 yếu tố còn lại các cháu đạt tốt 3 yếu tố, 2 yếu tố tốt, đa phần các con đạt khá ở các yếu tố vậy nên trong năm học này tôi lựa chọn các nội dung phù hợp với phần đa số trẻ trong lớp với các bạn có những yếu tố vượt trồi tôi chọn những câu hỏi mang tính dư duy để kích cho các cháu, các câu hỏi đơn giản hơn cho các bạn khá. Trong lớp có 2 bạn ít nói, ít chia sẻ với cô và các bạn tôi chọn những trò chơi dễ, câu trả lời đơn giản để các cháu tham gia và đạt được kết quả các cháu cảm thấy mình được khẳng đình mình với các bạn, tạo cơ hội khen, nói chuyện chia sẻ. Sau khi hiểu được năng lực của trẻ tôi có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ dựa trên các mức độ khác nhau về khả năng tiếp thu và học hỏi. Các hoạt động trong lớp có thể được phân loại sao cho phù hợp với từng nhóm trẻ. Nhóm trẻ có năng lực tốt và khá: Đối với những trẻ tiếp thu nhanh tôi thiết kế các hoạt động khó hơn, thử thách khả năng tư duy và sáng tạo của trẻ, chẳng hạn như các trò chơi logic, câu đố, hoặc các bài tập yêu cầu trẻ suy nghĩ phản biện. Nhóm trẻ có năng lực trung bình: Đối với những trẻ có khả năng tiếp thu ở mức trung bình, tôi xây dựng các hoạt động học tập có tính ứng dụng cao, vừa sức, giúp trẻ cảm thấy thoải mái và tự tin khi tham gia. Nhóm trẻ cần hỗ trợ thêm: Các trẻ này có thể cần sự hỗ trợ đặc biệt, chẳng hạn như các hoạt động hướng dẫn trực tiếp, sử dụng đồ chơi, hình ảnh hoặc công cụ trực quan để giúp trẻ học. Bảng chia năng lực theo nhóm trẻ Nhóm trẻ có năng lực tốt Nhóm trẻ có năng lực Nhóm trẻ cần hỗ trợ và khá trung bình thêm Nguyệt, Bảo phúc, Phong, Yến, Giang, Mỹ, Đan, Huy, Ngân, Dũng, Lý Phương Anh, Thiên phúc, Anh, Yến Nhi, Dương, Nhi, Lan, Duy. Mạnh, Quốc, Trọng. huỳnh, Đức Phúc. Tôi xếp cho các con ngồi theo nhóm với các kỹ năng các con cần đạt trong độ tuổi thì các hình thức ngồi để thực hiện bài tốt nhất đó là sẽ xếp các con ngồi như sau: - Cho trẻ ngồi ghép đôi 1:1 nghĩa là: 1 bạn tốt khá 1 bạn cần hỗ trợ. - Cho trẻ ngồi xen kẽ 1:1:1 nghĩa là 1 cần hỗ trợ, 1 tốt khá, 1 trung bình (Hình ảnh 1. Trẻ ngồi ghép đôi 1:1 nghĩa là 1 bạn tốt khá-bạn cần hỗ trợ?) Hoặc với kỹ năng khó tôi sẽ chia theo cấp độ khó, trung bình, dễ và phân thành ba nhóm lần lượt tốt - khá; khá- trung bình- cần hỗ trợ - dễ. Để cho các con trong lớp bạn nào cũng thực hiện được, tạo được ra sản phẩm, thực hiện được yêu 8 cầu, được khen các con sẽ cảm thấy tự tin với những ngày tiếp theo tôi sẽ đổi cho các cháu trong nhóm cần hỗ trợ thực hiện ở các cấp độ trung bình đến khó. Như vậy có thể khẳng định rằng xây dựng nội dung sát với năng lực của trẻ trên lớp là vô cùng cần thiết giúp cân bằng hoạt động, giúp đỡ kịp thời với những trẻ cần hỗ trợ, không gây nhàm chán với những trẻ có năng lực tốt khá tạo hứng thú trong các hoạt động cho cả lớp. 2. Giải pháp 2: Đổi mới và đa dạng trong phương pháp đặt câu hỏi Phương pháp đặt câu hỏi phù hợp là một kỹ năng quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong các hoạt học với trẻ, việc đặt câu hỏi đúng cách có thể kích thích sự tò mò, tư duy, khuyến khích trẻ tham gia vào cuộc trò chuyện, và hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ cũng như khả năng giải quyết vấn đề của trẻ. Câu hỏi mở: Cho phép trẻ trả lời theo cách riêng của mình, khuyến khích trẻ suy nghĩ sáng tạo và tự do diễn đạt cảm xúc, ý tưởng. Ví dụ: "Em nghĩ con vật trong bức tranh này đang làm gì?", "Khi em nhìn thấy bầu trời xanh, em cảm thấy như thế nào?" các câu hỏi này giúp trẻ phát triển khả năng tư duy độc lập và tăng cường khả năng diễn đạt. Câu hỏi hình ảnh: Sử dụng hình ảnh, đồ vật hoặc video để tạo câu hỏi giúp trẻ dễ hình dung và dễ dàng trả lời hơn. Điều này kích thích sự quan sát và khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Ví dụ: "Con thấy gì trong bức tranh này?”; "Trong video, các bạn nhỏ đang làm gì với bóng?" câu hỏi hình ảnh giúp trẻ phát triển khả năng phân tích và nhận diện sự vật, hiện tượng. Câu hỏi khám phá: Khuyến khích trẻ tìm hiểu, khám phá và thử nghiệm. Các câu hỏi này giúp trẻ phát triển khả năng tư duy phản biện và sự tò mò. Ví dụ: "Nếu con thử cho nước vào chai này, con nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?", "Chúng ta có thể tạo ra âm thanh từ những đồ vật nào trong lớp học?" câu hỏi khám phá giúp trẻ phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề. Câu hỏi kết nối: Những câu hỏi này giúp trẻ liên kết kiến thức mới với những gì đã biết hoặc những gì trẻ đã trải qua trong cuộc sống hàng ngày. Ví dụ: "Khi con đi chợ với mẹ, con đã thấy những loại trái cây nào?", "Con có thấy giống con vật trong sách với con vật mà em đã thấy ở sở thú không?" câu hỏi kết nối giúp trẻ xây dựng mối liên hệ giữa kiến thức lý thuyết và thực tế. Câu hỏi dự đoán: Câu hỏi dự đoán khuyến khích trẻ tưởng tượng về các tình huống và phát triển khả năng logic. Ví dụ: "Nếu chúng ta thả bóng này xuống đất, em nghĩ bóng sẽ đi đâu?", "Em nghĩ cây này sẽ lớn như thế nào khi chúng ta chăm sóc nó?" câu hỏi dự đoán giúp trẻ phát triển tư duy hình ảnh và khả năng suy luận. (Hình ảnh 2.Câu hỏi dự đoán “Các con nghĩ xem từ quả bóng chúng ta sẽ làm nên được những con vật gì”) 9 Câu hỏi cảm xúc: Câu hỏi giúp trẻ diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ của mình điều này không chỉ giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ mà còn nâng cao sự tự nhận thức và khả năng giao tiếp xã hội. Ví dụ: "Con cảm thấy như thế nào khi chơi với bạn?", "Khi con nhìn thấy bức tranh này, con cảm thấy vui hay buồn?" câu hỏi về cảm xúc giúp trẻ nhận thức về bản thân và xây dựng kỹ năng quản lý cảm xúc. Câu hỏi đóng: Các câu hỏi này có thể có câu trả lời ngắn gọn (đúng/sai, có/không) nhưng vẫn cần được sử dụng linh hoạt để khuyến khích sự tham gia. Ví dụ: "Con vật trong tranh có cánh không?", "Con có thích ăn trái cây không?" câu hỏi đóng có thể giúp trẻ củng cố kiến thức và giúp giáo viên dễ dàng kiểm tra sự hiểu biết của trẻ. Câu hỏi tình huống: Tạo ra các câu hỏi trong tình huống cụ thể giúp trẻ phản ứng với các tình huống thực tế. Ví dụ: "Nếu con bị ngã, con sẽ làm gì?", "Khi bạn muốn chơi với bạn khác, con sẽ nói như thế nào?" câu hỏi tình huống giúp trẻ học cách ứng xử và tương tác trong xã hội. Câu hỏi tưởng tượng: Câu hỏi tưởng tượng giúp trẻ phát triển sự sáng tạo và khả năng tư duy ngoài khuôn khổ. Ví dụ: "Nếu con là một siêu nhân, con sẽ làm gì?", "Nếu con có thể đi đến bất kỳ nơi đâu, con sẽ đi đâu và làm gì?" câu hỏi tưởng tượng giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo. (Hình ảnh 3.Câu hỏi tưởng tượng“Nếu con là siêu nhân, con sẽ làm gì?”) Câu hỏi đánh giá: Những câu hỏi này khuyến khích trẻ đánh giá hoặc so sánh các tình huống hoặc sự vật. Ví dụ: "Con thích chiếc xe này hay chiếc xe kia hơn?", "Con thấy việc xây lâu đài cát như thế nào, có khó không?" câu hỏi đánh giá giúp trẻ phát triển khả năng phân tích và đưa ra quyết định. Câu hỏi qua trò chơi: Đặt câu hỏi trong các trò chơi giúp trẻ học qua vui chơi. Các câu hỏi này thường đơn giản và dễ hiểu nhưng kích thích sự tham gia và hứng thú của trẻ. Ví dụ: "Chúng ta chơi trò tìm đồ vật nào có màu đỏ nhé?", "Ai có thể kể tên một con vật có thể bay?" Như vậy có thể khẳng định rằng đổi mới và đa dạng trong phương pháp đặt câu hỏi đối với trẻ mầm non là một cách tuyệt vời để phát triển khả năng tư duy, ngôn ngữ, cảm xúc và kỹ năng xã hội của trẻ. Các câu hỏi sáng tạo và linh hoạt giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh, mở rộng trí tưởng tượng và xây dựng nền tảng cho sự học hỏi suốt đời. 3. Giải pháp 3: Tích cực thiết kế trò chơi hứng thú đối với trẻ Trò chơi có vai trò đặc biệt quan trọng nó phương tiện để trẻ học hỏi, bắt chiếc những hành động, mô phỏng lại cuộc sống của người lớn qua các vai chơi, hành động chơi, khám phá và phát triển nhiều kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Ở 10 trường mầm non hoạt động vui chơi được diễn ra thường xuyên xen lẫn hoạt động học, hoạt động ngoài trời và có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi Trẻ không chỉ học từ vựng và ngữ pháp mà còn cải thiện khả năng giao tiếp, lắng nghe và phát triển tư duy ngôn ngữ qua những hoạt động vui nhộn và hấp dẫn. Chính vì vậy tôi đã phân loại các trò chơi để tiện cho việc phân vai chơi sao cho hợp lý hài hòa đạt được kết quả tốt nhất. Trò chơi giúp trẻ phát triển thể chất: Khi tham gia các trò chơi vận động như chạy nhảy, leo trèo hay cầm nắm đồ vật, trẻ được rèn luyện cơ thể, phát triển các nhóm cơ lớn và nhỏ, tăng cường sự linh hoạt và khả năng phối hợp. Những hoạt động này không chỉ giúp trẻ khỏe mạnh mà còn xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển thể lực lâu dài. Ví dụ như chạy theo hình vẽ cô vẽ các hình trên sàn như hình tròn, vuông, dích rắc,.. và yêu cầu trẻ chạy hoặc nhảy vào các ô các hình. Nhảy lò cò trẻ thực hiện các động tác nhảy một chân, giúp phát triển sự thăng bằng và sức mạnh chân. Vượt chướng ngại vật trẻ phải vượt qua các vật cản như ghế, dây thừng, hoặc các đồ vật mềm được xếp sẵn. Trò chơi giúp trẻ phát triển khả năng tư duy và sáng tạo: Qua các trò chơi, trẻ được trải nghiệm, khám phá và rèn luyện khả năng tư duy, sáng tạo. Chẳng hạn, khi chơi xếp hình, trẻ học cách tư duy logic, giải quyết vấn đề và thử nghiệm các phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu. Trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp: Trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ theo nhiều cách khác nhau, từ việc học từ mới, cải thiện phát âm đến việc nâng cao kỹ năng giao tiếp là một công cụ hiệu quả giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện. ví dụ trò chơi "Câu hỏi và trả lời" Cô đặt câu hỏi đơn giản và yêu cầu trẻ trả lời bằng câu hoàn chỉnh hoặc "Con thích màu gì?" hoặc "Con vật nào có lông? "trẻ cũng có thể kể chuyện cô yêu cầu kể lại câu chuyện ngắn hoặc sáng tạo một câu chuyện riêng, trò chơi đố từ cô đưa ra các gợi ý và yêu cầu trẻ đoán từ hoặc vật liên quan (ví dụ: "Con gì có sừng và kêu rống?"). Trò chơi phát triển trí tuệ: Khuyến khích trẻ tư duy logic, sự phân tích và khả năng giải quyết vấn đề ví dụ như ghép hình trẻ ghép các miếng ghép hình để tạo thành một bức tranh hoặc hình mẫu nhất định, ví dụ ghép các con vật với môi trường sống của chúng. Trò chơi tìm đồ vật: Giáo viên mô tả một vật nào đó và yêu cầu trẻ tìm ra vật đó trong lớp học. Trò chơi đếm số, trẻ sẽ học đếm qua các trò chơi như đếm số bước khi di chuyển hoặc đếm số lượng đồ vật trong một nhóm. Trò chơi sáng tạo: Khuyến khích sự sáng tạo, phát triển trí tưởng tượng và khả năng tự do thể hiện ý tưởng ví dụ như vẽ tranh trẻ được cung cấp giấy và màu sắc để tự do vẽ theo ý thích, giúp phát triển khả năng sáng tạo và kỹ năng vận động 11 tinh. Tạo hình từ đất sét hoặc cát trẻ tạo hình các con vật, đồ vật từ đất sét hoặc cát. Tạo hình từ lá cây trẻ tạo hình các con vật từ lá mít, lá chuối, lá tre, lá sắn, lá ổi,.. (Hình ảnh 4.Trẻ tạo hình từ lá cây mít, chuối, sắn, ổi, tre,..) Chơi đóng vai trẻ đóng vai các nhân vật trong gia đình, bác sĩ, người bán hàng,.. giúp phát triển kỹ năng xã hội và khả năng giải quyết tình huống. Trò chơi âm nhạc: Phát triển cảm nhận âm nhạc, khả năng nghe và vận động theo nhịp điệu ví dụ như nhảy theo nhạc trẻ sẽ nhảy, vỗ tay, hoặc di chuyển theo điệu nhạc khi nhạc dừng lại, trẻ phải đứng im. Chơi nhạc cụ đơn giản trẻ sử dụng các nhạc cụ đơn giản như trống, phách tre, xắc xô, để tạo ra âm thanh. Hát đồng dao trẻ hát theo các bài đồng dao, giúp phát triển khả năng nghe và nhớ lời. Ví dụ: Trò chơi “Đoán âm thanh”: Cô phát các âm thanh khác nhau (tiếng chim hót, tiếng mưa, tiếng nhạc) và yêu cầu trẻ nhận diện hoặc tìm ra nguồn gốc của âm thanh. Trò chơi hợp tác: Khuyến khích trẻ học cách làm việc nhóm, chia sẻ và tương tác xã hội ví dụ: Chơi kéo co trẻ cùng nhau kéo một sợi dây để xem ai thắng, giúp phát triển sức mạnh và khả năng làm việc nhóm hoặc chơi xây lâu đài cát trẻ cùng nhau xây dựng một lâu đài cát trong sân chơi, giúp học cách hợp tác và chia sẻ tài nguyên. Ví dụ: Trò chơi chuyền bóng: Trẻ chuyền bóng cho nhau trong một vòng tròn, giúp phát triển khả năng phối hợp và làm việc nhóm. Trò chơi học qua các cảm giác: Phát triển các giác quan của trẻ như thị giác, thính giác, xúc giác ví dụ: Cảm giác với vật liệu trẻ chạm vào các vật liệu khác nhau như vải, cát, nước, hoặc đá để khám phá cảm giác của chúng. Trò chơi tìm đồ vật bằng mắt nhắm: Trẻ tìm các đồ vật trong hộp hoặc lớp học khi bị bịt mắt, giúp phát triển khả năng xúc giác. (Hình ảnh 5.Trò chơi học qua cảm giác“ bịt mắt bắt bắt dê) Trò chơi tưởng tượng: Khuyến khích trẻ phát triển khả năng tưởng tượng và sáng tạo, ví dụ đóng vai trẻ hóa thân thành các nhân vật trong các câu chuyện hoặc trong cuộc sống hàng ngày (chẳng hạn như làm bác sĩ, làm mẹ, làm thợ xây...). Chơi với búp bê hoặc đồ chơi mô phỏng: Trẻ sáng tạo ra các tình huống và câu chuyện khi chơi với búp bê hoặc đồ chơi mô phỏng hoặc trò chơi "Nếu tôi là...": Trẻ sẽ tưởng tượng và nói về những gì mình sẽ làm nếu là một loài động vật hay siêu anh hùng. Trò chơi xếp hình phát triển tư duy logic, sự kiên nhẫn và khả năng giải quyết vấn đề, ví dụ hép hình trẻ xếp các mảnh ghép hình lại với nhau để tạo thành một bức tranh, trò xếp các khối hình học trẻ sắp xếp các khối hình học như hình vuông, hình 12 tròn, hình tam giác vào đúng vị trí, hoặc lắp ráp đồ chơi: Trẻ ghép các bộ đồ chơi xếp hình hoặc Lego để tạo ra một hình mẫu mới. Trò chơi đoán vật: Cô mô tả đặc điểm của một vật và yêu cầu trẻ đoán đó là vật gì? (Hình ảnh 6. Trò chơi tư duy logic “Đoán vật”) Trò chơi dân gian: Các trò chơi dân gian thường chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc, giúp trẻ hiểu và gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời gắn kết với cộng đồng và truyền thống gia đình, ví dụ như bịt mắt bắt dê, mèo đổi chuột, gieo xúc xắc, rồng rắn lên mây, ô ăn quan, nhảy dây, chơi cột, thả đỉa ba ba, Khi giáo viên kết hợp những trò chơi này vào các hoạt động học sao cho phù hợp sẽ mang lại hiệu quả tốt trong việc tạo hứng thú và phát huy khả năng sáng tạo, vui chơi cũng là cơ hội tuyệt vời để trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp và xã hội khi chơi cùng bạn bè sẽ học cách chia sẻ hợp tác lắng nghe và giải quyết xung đột những kỹ năng này không chỉ giúp trẻ hòa nhập tốt hơn trong một môi trường mầm non, hoạt động vui chơi còn có tác dụng nuôi dưỡng cảm xúc và tâm lý của trẻ, trẻ thường thể hiện và quần hay cảm xúc của mình thông qua trò chơi từ đó học cách xử lý những cảm xúc tích cực và phát triển tinh thần lạc quan vui vẻ. Như vậy có thể khẳng định rằng giải pháp tích cực thiết kế trò chơi hứng thú đối với trẻ mang lại sự hứng thú, sự tập trung, quan trọng nó là phương tiện để trẻ học hỏi, bắt chiếc những hành động, mô phỏng lại cuộc sống của người lớn. 4. Giải pháp 4: Tạo không gian học tập linh hoat cho trẻ Tạo không gian linh hoạt là thiết lập không gian học tập đa dạng trong phòng học mở rộng cơ hội học tập và trải nghiệm cho trẻ giúp các con cảm nhận góc học tập sinh động, thân thiện. Phương pháp này không chỉ tối ưu hóa diện tích sử dụng mà còn mang lại môi trường học phong phú kích thích sự học hỏi và vui chơi, trong không gian này trẻ được khám phá, học tập hiểu quả vượt ra khỏi khuôn khổ của lớp học tuyền thống. Không gian học tập linh hoạt tạo ra nhiều ưu thế như vậy nhưng việc tạo ra môi trường cũng cần có các nguyên tắc cần tuân thủ: Nguyên tắc màu sắc: Màu sắc đóng vai trò chủ đạo, việc phối màu sắc đúng giúp tăng giá trị thẩm mỹ làm cho người nhìn không bị rối mắt, khó chịu. khi trang trí chỉ sử dụng từ 3-4 màu chủ đạo. Màu sắc tươi sáng như vàng, xanh, đỏ hoặc cam có thể được sử dụng trong các khu vực học tập để kích thích sự sáng tạo và sự chú ý của trẻ. Tuy nhiên, bạn cũng có thể sử dụng các màu pastel nhẹ nhàng cho khu vực yên tĩnh như đọc sách hoặc nghỉ ngơi. Nguyên tắc hình ảnh: Màu sắc và hình ảnh là chìa khóa thu hút trẻ trong mọi góc chơi, cần trang trí bằng những hình ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu. Nguyên tắc bố trí không gian mở và dễ dàng thay đổi: Tôi tạo ra nhiều khu vực học tập khác nhau như khu vực đọc sách, khu vực nghệ thuật, khu vực chơi tự 13 do, khu vực về khoa học, khu vực thể chất Trẻ có thể tự do di chuyển và chọn lựa không gian phù hợp với sở thích hoặc hoạt động học tập của trẻ, cố gắng sắp các đồ chơi, đồ vật theo độ tuổi và tấm với của trẻ. (Hình ảnh 7. Bố trí không gian mở, dễ dàng thay đổi) Giá kệ tôi lựa chọn sử dụng bàn ghế nhỏ gọn, có thể dễ dàng cho trẻ tự di chuyển để thay đổi cấu trúc không gian tùy theo hoạt động. Điều này tạo sự linh hoạt cho các hoạt động nhóm hoặc cá nhân. Không gian thoáng đãng đảm bảo không gian đủ rộng để trẻ có thể di chuyển thoải mái, tham gia các hoạt động thể chất như nhảy múa, chạy nhảy hoặc chơi với đồ chơi. Bản thân cũng luôn cố gắng tận dụng ánh sáng tự nhiên nhiều nhất có thể, vì ánh sáng tự nhiên có thể giúp cải thiện tâm trạng và sự tập trung của trẻ. (Hình ảnh 8. Bàn ghế nhỏ ngọn dễ di chuyển phù hợp với tầm với của trẻ) Cách sắp xếp các góc di động, thay đổi theo tuần, tháng trẻ rất tò mò vì vừa tuần một các bạn chơi góc gần cửa sổ là nghệ thuật sáng tạo nhưng sang tuần hai nó lại là góc xây dựng. Tùy thuộc vào trẻ thích chơi góc nào mà tôi cho trẻ tự lấy đồ chơi và về góc đó các con trang trí và sắp xếp góc chơi của mình cho phù hợp và rủ bạn chơi cùng, từ việc lừa chọn góc nào để chơi đến lừa chọn góc để sắp xếp đồ chơi, rủ bạn chơi, phân vai chơi cũng là cả một quá trình trẻ hoạt động trao đổi với bạn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, sắp xếp, linh hoạt, giải quyết vấn đề tốt hơn và tạo được không gian lớp học rộng dã, thoáng các góc chơi không còn lan tràn, đồ dùng lộn xộn như trước nữa. Một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc duy trì không gian linh hoạt phải kể đến là duy trì sự ngăn nắp qua thói quen hàng ngày bằng cách khuyến khích trẻ dọn dẹp sau mỗi buổi học. Để không gian học tập luôn gọn gàng, trẻ cần được hình thành thói quen dọn dẹp sau mỗi hoạt động, hướng dẫn trẻ cách cất giữ sách vở, đồ dùng học tập vào đúng vị trí. Việc này không chỉ giúp giữ cho không gian học tập gọn gàng mà còn giúp trẻ phát triển tính tự lập và trách nhiệm. Tôi tạo một lịch dọn dẹp định kỳ bên cạnh việc dọn dẹp ngay sau mỗi buổi học, tôi cũng nên lập lịch dọn dẹp định kỳ để đảm bảo không gian học tập luôn sạch sẽ và ngăn nắp. Ví dụ, mỗi cuối tuần, tôi cùng trẻ kiểm tra lại không gian học tập, dọn dẹp các vật dụng không cần thiết hoặc thay đổi cách bài trí để tạo sự mới mẻ. Lịch dọn dẹp định kì cho trẻ Tần Ngày Công việc Ghi chú suất Giúp không gian học tập - Dọn dẹp bàn học (cất sách vở, Hàng Mỗi luôn gọn gàng và dễ dàng dụng cụ học tập) ngày ngày sử dụng. - Sắp xếp lại đồ chơi (nếu có) Khuyến khích trẻ tự dọn đồ 14 hoặc vật dụng cá nhân chơi sau khi sử dụng. - Kiểm tra và cất đồ dùng vào Giúp trẻ hình thành thói đúng chỗ (bút, thước, vở) quen ngăn nắp và tự lập. Đảm bảo không gian học - Lau bàn học, ghế ngồi tập luôn sạch sẽ và dễ chịu. Hàng - Sắp xếp lại sách vở, đồ dùng Mỗi Giúp không gian gọn gàng, tuần học tập, kiểm tra đồ đã cũ tuần dễ dàng tìm kiếm. - Dọn dẹp các khu vực phụ (góc Tạo không gian thoải mái thư giãn, khu vực chơi) và ngăn nắp cho trẻ. - Sắp xếp lại tủ sách, vứt bỏ Giúp trẻ học cách loại bỏ sách vở không cần thiết những thứ không cần thiết. Đảm bảo không gian học Hàng - Vệ sinh các góc khuất, lau cửa Mỗi tập luôn sạch sẽ từ mọi góc tháng sổ nếu cần tháng độ. - Làm sạch các thiết bị học tập Giúp trẻ biết cách bảo quản (máy tính, bút vẽ, bảng) đồ dùng học tập. - Kiểm tra lại toàn bộ không Tạo sự mới mẻ cho không gian học tập, thay đổi bố trí nếu gian học tập, giúp trẻ hứng cần thiết thú học hơn. - Vệ sinh các khu vực ít được Đảm bảo không gian học Hàng Mỗi chú ý (dưới bàn học, trên giá tập luôn sạch sẽ, không có quý quý sách) bụi bẩn. - Dọn dẹp và kiểm tra lại đồ Tạo không gian chơi ngăn chơi, loại bỏ những món không nắp và tổ chức. sử dụng nữa Như vậy có thể khẳng định rằng tạo không gian học tập linh hoat cho trẻ là vượt ra khỏi khuôn khổ của lớp học tuyền thống ở đây trẻ được sáng tạo từ góc chơi, bạn chơi, đồ dùng khi chơi, địa điểm chơi khác hoàn với góc chơi truyền thống cố định, đồ dùng cố định do cô sắp xếp, vị trí do cô lựa chọn từ trước. III. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: Sau khi tôi nghiên cứu và áp dụng một số giải pháp trên vào quá trình tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo 4 tuổi tôi thu được kết quả như sau: 1. Về phía giáo viên Sau một năm áp dụng giải pháp này đã giúp tôi phát triển và nâng cao các kỹ năng giảng dạy, cải thiện chất lượng bài giảng và phương pháp dạy học, tạo cơ hội đánh giá lại phương pháp giảng dạy của mình. Những phản hồi từ học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp giúp giáo viên điều chỉnh, cải thiện cách tiếp cận và tối ưu hóa các chiến lược giảng dạy, giúp giáo viên tạo ra sự gắn kết mạnh mẽ với trẻ và phụ huynh từ đó tạo ra môi trường học tập hiệu quả hơn, giúp học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn. Giúp tôi yên tâm, phấn khởi hơn khi tổ chức các hoạt động trong ngày mà không cần lo lắng e dè mỗi khi có Ban giám hiệu dự giờ thăm lớp 15 hay đón đoàn thanh tra kiểm tra hoặc tham gia vào các hoạt động kỷ niệm ngày hội ngày lễ nào đó. Bản thân tôi được trau dồi kiến thức và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong việc giáo dục trẻ, được phụ huynh tin tưởng phối hợp cùng cô trong các hoạt động, tạo động lực cho cô yêu nghề, mến trẻ. Nhận thức rõ và hiểu sâu hơn về tầm quan trọng của giải pháp xây dựng môi trường học tập hứng thú và sáng tạo với sự phát triển toàn diện của trẻ, giúp cho tôi và đồng nghiệp tự tin, sáng tạo, linh hoạt trong cách tổ chức các hoạt động được nhà trường và đồng nghiệp tin tưởng, đánh giá cao, trẻ yêu quý, phụ huynh tin tưởng gửi gắm con em vào lớp học 2. Về phía phụ huynh Phụ huynh thêm tin tưởng nhà trường cô giáo, số trẻ được đưa ra lớp ngày càng đông, quan tâm hơn đến con em mình trong các hoạt động tại trường ủng hô, đóng góp ngày công, tham gia lao động, có nhiều hoạt động tinh thần ý nghĩa nhằm khích lệ trẻ học giỏi chăm ngoan. Phụ huynh hưởng ứng, thường xuyên trao đổi và cùng phối kết hợp với giáo viên để cùng rèn, xây dựng môi trường học tập đầy hứng thú và sáng tạo cho trẻ và rất tin tưởng cô giáo bởi họ tự nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt của con mình. Với những kết quả khả quan như vậy tôi thấy mình cần phải phát huy hơn nữa, nghiên cứu tài liệu và tích cực hơn nữa trong việc tiếp tục giáo dục và xây dựng môi trường học tập hứng thú và sáng tạo cho trẻ để làm tốt nhiệm vụ trồng người của mình. 3. Về phía trẻ Sau một năm áp dụng các giải pháp của đề tài xây dựng môi trường học tập hứng thú, sáng tạo cho trẻ 4 tuổi trong trường mầm non tôi nhận thấy trẻ lới tôi có các chuyển biến như sau: Có sự chuyển biến rõ nét về việc hình thành cho trẻ kỹ năng chủ động tham gia vào hoạt động, có kỹ năng làm việc nhóm, có ý tưởng giải pháp giải quyết vấn đề, trả lời được câu hỏi, tham gia trò chơi học tập một cách hứng thú, sáng tạo.. Và sự hứng thú, sáng tạo này sẽ giúp trẻ mạnh dạn tự tin đó sẽ là hàng trang tuyệt vời theo con trong suốt cuốc đời. - Giúp trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp với mọi người xung quanh. - Giúp trẻ khẳng định mình mà không bị bỏ lỡ đi những cơ hội được thể hiện mình, khẳng định năng lực của mình trong cuộc hiên tại cũng như tương lai sau này. Những thay đổi đó được thể hiện rõ qua bảng khảo sát ở đầu năm và cuối năm dưới đây 16 Bảng 2: Bảng so sánh đối chứng kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài Trước khi thực hiện đề Sau khi thực hiện đề tài Tổng tài Tiêu chí khảo số Số Đạt Đạt Số Đạt Đạt sát Chưa Chưa trẻ trẻ tỷ lệ tỷ lệ trẻ tỷ lệ tỷ lệ đạt đạt đạt % % đạt % % Chủ động tham gia vào hoạt 15 62,5 9 37,5 22 91,7 2 8,3 động Trả lời được 13 54 11 46 20 83,2 4 16,8 câu hỏi Có ý tưởng giải pháp giải quyết 24 12 50 12 50 19 79,4 5 20,6 vấn đề Kỹ năng làm 14 58,2 10 41,8 20 83,2 4 16,8 việc nhóm Tham gia trò 16 66,5 8 33,5 24 100 0 0 chơi học tập Nhìn vào bảng trên ta thấy trẻ có sự khác biệt rõ ràng giữa số liệu khảo sát đầu năm và cuối năm. Trẻ đã có sự chuyển biến rõ nét được thể hiện ở mức độ đạt được cuối năm so với đầu năm cao hơn nhiều. - 91,7% trẻ chủ động tham gia vào hoạt động. - 83,2% trẻ trả lời được câu hỏi - 79,4% trẻ có ý tưởng giải pháp giải quyết vấn đề - 83,2% trẻ kỹ năng làm việc nhóm - 100% trẻ tham gia trò chơi học tập Sau khi tiến hành những biện pháp trên tôi thấy trẻ đã mạnh dạn tự tin hơn trong các hoạt động. Trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú, vui vẻ chủ động đặc biệt nhận thức và thể lực của trẻ được nâng lên rõ rệt. Trẻ nhanh nhẹn, tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Giải pháp giúp trẻ trong lớp thêm gắn bó với nhau, nâng cao tinh thần đoàn kết và ý thức tập thể của lớp. Điều này chứng tỏ các giải pháp đưa ra có hiệu tốt và có thể áp dụng cho nhiều năm học tiếp theo. IV. Hiệu quả của sáng kiến 1. Hiệu quả về khoa học: Với đề tài này tôi nhận thấy về mặt khoa học nó có những giải pháp rất hữu ích và lôgic, giúp cô hiểu rõ hơn về năng lực của từng bạn trong lớp và có giải pháp tốt nhất cho các con,có tính sáng tạo mới và đặc biệt là có hiệu quả rất cao có thể cải tiến và dễ dàng áp dụng vào các độ tuổi khác nhau. 17 2. Hiệu quả về kinh tế: Sáng kiến đã được áp dụng tại trường mầm non của tôi thu được kết quả như sau: Khi thực hiện các giải pháp tiết kiệm thời gian nghiên cứu, áp dụng thực hiện hiệu quả cao hơn so với những giải pháp cũ Giáo viên dễ dàng thực hiện và tìm hiểu, tiết kiệm chi phí và thời gian. Sáng kiến có tính thuyết phục cao, thực hiện dễ dàng nhưng không đòi hỏi phải tốn kém kinh phí quá nhiều 3. Hiệu quả về xã hội: Sáng kiến giúp phụ huynh có cái nhìn mới về môi trường lớp học ở lớp và việc tổ chức các hoạt động cho trẻ mọi lúc, mọi nơi. Phụ huynh đã hiểu được vị trí, tầm quan trọng của giải pháp xây dựng môi trường học tập đầy hứng thú, sáng tạo. Thu hút được sự quan tâm và huy động các nguồn lực từ phụ huynh, cộng đồng xã hội tham gia vật chất, tinh thần và có các hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ nhà trường, giáo viên và trẻ, để trẻ có môi trường học tập và vui chơi tuyệt đối an toàn. Nhà trường tăng cường công tác, tham mưu vận động, chú trọng việc xây dựng kế hoạch, từ đó có những lớp tập huấn và bồi dưỡng thường xuyên để giáo viên có kiến thức và kỹ năng tổ chức các hoạt động học một cách hiểu quả nhất và truyền tải được nét đẹp, niềm yêu thích học đến trẻ của mình. Thông qua việc kết hợp với phụ huynh tôi cảm thấy sự trẻ được quan tâm nhiều hơn, giữ phụ huynh và giáo viên không còn rào cản về mặt vị trí. Trẻ luôn được tạo điều kiện tốt nhất để học tập và vui chơi phát triển đúng theo lứa tuổi của mình. Trẻ được sống đúng nghĩa với tuổi thơ của mình. Góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc tinh thần hiếu học của con người việt nam. Trong quá trình thực hiện tôi thấy trẻ có kết quả tiến bộ rõ rệt trong khi giao tiếp. Trẻ tự tin bày tỏ ý kiến của mình qua các hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt động tập thể. V. Tính khả thi Các giải pháp của sáng kiến đưa ra đã được áp dụng trong nhà trường và đạt hiệu quả cao, công tác giáo dục được nâng lên rõ rệt; hiện nay đã và đang áp dụng trong trường của tôi, các trường bạn có thể tham khảo sử dụng. Tuy nhiên vận dụng những giải pháp đó như thế nào để có hiệu quả tốt thì còn tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng trường, từng địa phương và khả năng vận dụng của từng giáo viên như thế nào để đạt kết quả cao. VI. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. Thời gian thực hiện từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025, củng cố và tiếp tục thực hiện từ tháng 09 năm 2025 tới các năm tiếp theo
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_xay_dung_moi_truong_h.pdf

