Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non

pdf 27 trang vietcuong 03/04/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non
 UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ 
 TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI B 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO VÀ QUẢNG LÝ 
 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỮA ĂN CHO TRẺ 
 TRONG TRƯỜNG MẦM NON 
 Lĩnh vực : Quản lý 
 Tên tác giả : Nguyễn Thị Tuyết Nhung 
 Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại B 
 Chức vụ : Phó Hiệu trưởng 
 Năm 2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 
 Kính gửi: HĐSK huyện Ba Vì 
 Ngày Trình 
 Nơi 
 tháng Chức độ 
 Họ và tên công Tên sáng kiến 
 năm danh chuyên 
 tác 
 sinh môn 
 “ Một số biện pháp chỉ 
 Trường 
Nguyễn Thị Tuyết 19/09/ Phó Hiệu đạovà quản lý năng cao 
 MN Ba Đại học 
 Nhung 1982 trưởng chất lượng bữa ăn cho trẻ 
 Trại B 
 trong trường mầm non” 
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản Lý 
 - Tên đề tài SKKN: “ Một số biện pháp chỉ đạovà quản lý năng cao chất 
lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” 
 - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày 15/11/2024 -
Tại trường mầm non Ba Trại B 
 - Mô tả bản chất của sáng kiến (Mô tả ngắn gọn, đầy đủ và rõ ràng các 
bước thực hiện giải pháp cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp; 
nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở thì cần nêu rõ tình 
trạng của giải pháp đã biết, những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục 
những nhược điểm của giải pháp đã biết. Bản mô tả nội dung sáng kiến có thể 
minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm... nếu cần 
thiết). Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau: 
 * Biện pháp 1: Tổ chức cho tổ nuôi dưỡng tham gia các lớp tập huấn 
kiến thức về dinh dưỡng, kỹ thuật chế biến món ăn và an toàn thực phẩm. 
 Với mong muốn nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ của tập thể nhà 
trường tôi đã tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng cùng phối kết hợp với các 
trường mầm non trong tiểu khu I mời giảng viên trường Cao đẳng kỹ thuật và 
công nghệ Hà Nội Thạc sĩ: Trần Thị Yến và Thạc sĩ: Lê Ngọc Tú về tập huấn 
chuyên đề cho toàn thể Cán bộ quản lý và tổ nuôi dưỡng với nội dung chuyên 
đề: Đổi mới xây dựng thực đơn và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ tại 
cơ sở giáo dục mầm non. Qua buổi tập huấn chuyên đề tôi đã học hỏi được rất 
nhiều kiến thức bổ ích về dinh dưỡng như: Đổi mới xây dựng thực đơn; Những 
thực thực phẩm không nên kết hợp để chế biến món ăn; Những thực phẩm có thể thay thế cho nhau trong khi chế biến; Kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ như 
món Bánh bí đỏ nhân thịt, bánh giò, sữa bí đỏ, sữa lạc 
 * Biện pháp 2: Đảm bảo lựa chọn nguồn thực phẩm chất lượng cung 
cấp vào trường và làm tốt khâu giao nhận thực phẩm. 
 Việc thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm sẽ đảm bảo thực phẩm đưa 
vào bếp ăn an toàn, đủ số lượng và đạt chất lượng. Chính vì vậy, tôi luôn chú 
trọng và chỉ đạo thực hiện tốt khâu này theo đúng quy định, với đầy đủ thành 
phần tham gia đó là: Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên y tế, nhân viên kế 
toán, nhân viên trực tiếp nấu và phụ hunh đảm bảo tính công khai, minh bạch. 
Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo sự đoàn kết, tin 
tưởng lẫn nhau trong tập thể nhà trường. 
 * Biện pháp 3: Xây dựng thực đơn kết hợp nguyên liệu thực phẩm 
phong phú và thay đổi theo ngày, tuần và theo mùa. 
 Tất cả các loại thực phẩm đều có chứa chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ 
thể trẻ. Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất nhất định. Vậy cách tốt nhất 
để đảm bảo chất dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của trẻ là kết hợp nhiều loại thực 
phẩm trong món ăn. Có như vậy thì bữa ăn của trẻ mới đa dạng, phong phú về 
nguyên liệu thực phẩm. Nhưng phải kết hợp thực phẩm như thế nào cho đúng, 
cho an toàn mà không làm mất đi giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm đó 
mà làm cho món ăn đó ngon hơn, bắt mắt hơn nhờ vào màu sắc của thực phẩm. 
Kích thích vị giác của trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng. 
 * Biện pháp 4: Chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ ở 
trường mầm non. 
 Dịp Tết Nguyên đán tôi lên kế hoạch và tham mưu với BGH phối hợp với 
giáo viên, nhân viên và phụ huynh tổ chức cho trẻ ăn tết dưới hình thức Tiệc 
Buffet rất vui vẻ và ý nghĩa. Việc tổ chức cho trẻ ăn Buffet trước hết giúp trẻ 
được thưởng thức các món ăn vừa lạ vừa quen, trẻ biết ăn nhiều loại thức ăn, 
giúp trẻ hiểu thêm những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Hơn 
nữa, tổ chức cho trẻ ăn Buffet còn giúp trẻ giao lưu, trao đổi trò chuyện với nhau 
về các món ăn, cách ăn, cách sử dụng đồ. Rèn cho trẻ kỹ năng không lấy nhiều 
một loại thức ăn, ăn hết phần thức ăn mình đã lấy, không để thức ăn thừa. 
 Qua đó dạy trẻ thói quen tự phục vụ, tự lựa chọn giúp trẻ thêm mạnh dạn, 
tự tin giao tiếp, ứng xử tạo tiền đề cho sự phát triển của trẻ một cách toàn diện. 
 * Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý công 
tác chăm sóc nuôi dưỡng một cách có hiệu quả. 
 Với ưu điểm của ứng dụng CNTT như vậy tôi chỉ đạo các bộ phận liên 
quan trực tiếp đến công tác nuôi dưỡng thực hiện ứng dụng CNTT trong công 
tác chăm sóc nuôi dưỡng như: 
 + Giáo viên thực hiện điểm danh học sinh trên phần mềm Gokid. 
 + Nhân viên xuất, nhập kho thực hiện trên phần mềm Gokid 
 + Nhân viên nuôi dưỡng lựa chọn thực phẩm theo thực đơn đã được áp 
lên phần mềm Gokid 
 + Kế toán tính toán khẩu phần ăn cân đối tỉ lệ chất trên phần mềm và tính 
toán tiền cần thanh toán trên phần mềm Gokid. 
 - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có 
 - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tác giả (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng 
giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những 
giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở) 
 Lợi ích có được từ sáng kiến đó là: 
 * Hiệu quả về khoa học 
 Qua quá trình thực hiện đề tài tôi đưa ra nhiều biện pháp sáng tạo phù hợp 
với tình hình thực tế, thông qua các biện pháp này tôi đã đạt được mục đích đề 
ra đó là khắc phục được những tồn tại, hạn chế trong công tác chăm sóc và nuôi 
dưỡng trẻ. Bản thân có nhiều đổi mới, sang tạo trong công tác quản lý. Trẻ luôn 
hứng thú với những bữa ăn, ăn được đa dạng thực phẩm và ăn rất ngon miệng. 
 * Hiệu quả về kinh tế 
 Khi thực hiện sáng kiến, áp dụng các giải pháp không tốn kém về kinh tế 
nhân lực chủ yếu là nhân viên nuôi dưỡng và giáo viên trong nhà trường. Bữa ăn 
được đảm bảo chất lượng giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất không có đồ tránh 
lãng phí thức ăn. 
 * Hiệu quả về xã hội 
 Sau khi thực hiện một số biện pháp đó nhà trường đã gặt hái được rất 
nhiều thành công nhất định và có sức lan tỏa đến các bậc phụ huynh trong nhà 
trường, được phụ huynh tin tưởng, tỉ lệ chuyên cần của trẻ ngày càng cao. 
 Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến 
lần đầu (nếu có): 
 Ngày Nơi công 
 Trình độ 
 Số Họ và tháng tác (hoặc Chức Nội dung công việc 
 chuyên 
TT tên năm nơi thường danh hỗ trợ 
 môn 
 sinh trú) 
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật 
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. 
 Ba Trại, ngày 22 tháng 5 năm 2025 
 Người yêu cầu 
 Nguyễn Thị Tuyết Nhung 
 MỤC LỤC 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1 
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. ...................................................................1 
1.1. Cơ sở lí luận. ............................................................................................................1 
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................1 
2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến. ...................................................................................2 
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ..............................................................2 
II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN ..............................................................................2 
1. Hiện trạng vấn đề .......................................................................................................2 
1.1. Khảo sát thực trạng cách làm cũ trước khi thực hiện đề ài ..................................2 
1.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài. .............................................................3 
1.3. Nhược điểm của cách làm cũ .................................................................................3 
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề .................................................4 
2.1. Biện pháp 1: Tổ chức cho tổ nuôi dưỡng tham gia các lớp tập huấn kiến thức 
về dinh dưỡng, kỹ thuật chế biến món ăn và an toàn thực phẩm. ...............................5 
2.2. Biện pháp 2: Đảm bảo lựa chọn nguồn thực phẩm chất lượng cung cấp vào 
trường và làm tốt khâu giao nhận thực phẩm. ..............................................................7 
2.3. Biện pháp 3: Xây dựng thực đơn kết hợp nguyên liệu thực phẩm phong phú và 
thay đổi theo ngày, tuần và theo mùa. ...........................................................................8 
2.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm 
non. ............................................................................................................................... 10 
2.5. Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý công tác chăm 
sóc nuôi dưỡng một cách có hiệu quả. ....................................................................... 11 
3. Kết quả thực hiện: ................................................................................................... 13 
4. Hiệu quả của sáng kiến: .......................................................................................... 14 
4.1.Hiệu quả về khoa học ............................................................................................ 14 
4.2. Hiệu quả về kinh tế .............................................................................................. 14 
4.3.Hiệu quả về xã hội ................................................................................................ 14 
5. Tính khả thi .............................................................................................................. 14 
6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. .................................................................... 14 
7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. ...................................................................... 14 
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...................................................................... 14 
1. Kết luận: ................................................................................................................... 14 
2. Các đề xuất và khuyến nghị .................................................................................... 15 
2.1. Đối với Phòng giáo dục: ...................................................................................... 15 
2.2. Đối với nhà trường: .............................................................................................. 15 
PHẦN IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 17 
 1 
 ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 “ Một số biện pháp chỉ đạovà quản lý năng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ 
 trong trường mầm non” 
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 
 1.1. Cơ sở lí luận. 
 “ Sức khỏe trẻ em hôm nay là sự phồn vinh của đất nước ngày mai” 
 Như chúng ta đã biết sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, có sức 
khỏe thì mới có mọi ước mơ không có sức khỏe thì chỉ có một mơ ước là sức 
khỏe. Đặc biệt là trẻ em sức khỏe ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, là 
yếu tố quyết định đến sự phát triển của trẻ sau này. Để thế hệ trẻ được thông 
minh, sáng tạo, có thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước trong thời kỳ 
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc nuôi dạy trẻ khỏe manh ngay từ những 
năm tháng đầu tiên của cuộc đời là rất quan trọng. 
 Đối với lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ đang phát triển mạnh, các cơ quan, 
chức năng tâm sinh lý của trẻ đang dần dần được hoàn thiện. Trẻ có khỏe thì 
mới tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi. Ở giai đoạn này, nếu 
trẻ không được quan tâm, chăm sóc đúng cách sẽ dễ dấn đến tình trạng trẻ bị suy 
dinh dưỡng. Tức là trẻ bị thiếu dinh dưỡng quan trọng với biểu hiện là trẻ chậm 
lớn, sức đề kháng kém hơn thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và 
viêm đường hô hấp, trẻ giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi 
trưởng thành. 
 Có thể nói rằng yếu tố giúp trẻ phát triển cân đối phụ thuộc vào chất lượng 
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Trong những năm gần đây, hoạt động chăm sóc giáo 
dục dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non không ngừng 
phát triển, việc nâng cao chất lượng bữa ăn, việc chăm sóc sức khỏe phòng 
chống suy dinh dưỡng và giảm tỷ lệ trẻ béo phì đang là mối quan tâm của toàn 
xã hội. Vậy yêu cầu đặt ra cho các trường mầm non có tổ chức ăn bản trú thì chất 
lượng bữa ăn hàng ngày cho trẻ phải đảm bảo cả về lượng và chất để trẻ phát 
triển toàn diện cân đối hài hoà giữa thể chất và trí tuệ. 
 1.2. Cơ sở thực tiễn 
 Khi tôi được giao nhiệm vụ phụ trách công tác nuôi dưỡng, tôi tiến hành 
khảo sát và nhận thấy chất lượng bữa ăn tại nhà trường mầm non còn nhiều hạn 
chế. Chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý, chưa khoa học, chưa đảm bảo đầy đủ 
dưỡng chất theo tiêu chuẩn quy định. 
 Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cận, thể thấp còi và trẻ béo phì cao. 2 
 Là một Hiệu phó phụ trách công tác nuôi dưỡng ở Trường mầm non 
Ba Trại B tôi luôn nhận thức được tầm quan trọng trong việc nâng cao chất 
lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non đem lại cho trẻ sự ngon miệng, hấp 
thu tốt các chất dinh dưỡng đảm bảo đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng 
cho trẻ phát triển. Việc tổ chức cho trẻ ăn ở nhà trường đảm bảo chất lượng 
theo đúng nghĩa cả về chất lẫn về lượng luôn là vấn đề mà bản thân tôi trăn trở 
và suy nghĩ. 
 Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý 
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” 
 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến. 
 Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. 
 Giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi, béo phì và các 
bệnh khác của trẻ trong năm học. 
 Tạo được niềm tin uy tín với cha mẹ học sinh. 
 Tuyên truyền cha mẹ học sinh vai trò nhiệm vụ và tầm quan trọng của 
việc cho trẻ ăn uống đủ 4 nhóm chất cho trẻ ở gia đình và trường mầm non. 
 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 * Thời gian: 
 - Đề tài được thực hiện trong năm học 2024- 2025 
 * Đối tượng nghiên cứu. 
 “ Một số biện pháp chỉ đạo và quản lý nâng cao chất lượng bữa ăn cho 
trẻ trong trường mầm non” 
 * Phạm vi nghiên cứu: 
 - Đề tài được thực hiện tại trường mầm non Ba Trại B – xã Ba Trại- 
huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội. 
 II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 1. Hiện trạng vấn đề 
 1.1. Khảo sát thực trạng cách làm cũ trước khi thực hiện đề ài 
 Trong quá trình thực hiện việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ gặp 
những thuận lợi và khó khăn sau: 
 * Thuận lợi : 
 - Nhà trường luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, tận tình của lãnh đạo 
phòng giáo dục, lãnh đạo huyện trong các hoạt động của nhà trường. 
 - Ban giám hiệu nhiệt tình có tinh thần đoàn kết trách nhiệm với công 
việc. 3 
 - Đội ngũ nhân viên nhà trường nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có tinh 
thần trách nhiệm trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tích 
cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và học hỏi kinh 
nghiệm cho bản thân. 
 - Trong quá trình quản lý nuôi dưỡng đã được tập thể cán bộ giáo viên 
nhân viên, lãnh đạo địa phương và đặc biệt là các bậc phụ huynh tin tưởng, giúp 
đỡ, tạo điều kiện đầu tư vào công tác nuôi dưỡng. 
 - Nhà trường ký hợp đồng với nhà cung cấp thực phẩm uy tín, chất lượng 
có trách nhiệm đảm bảo nguồn thực phẩm tươi ngon. 
 - Mức tiền ăn của trẻ năm học 2023-2024: 18.000đ/ngày/1 trẻ. 
 - Năm học 2024-2025 là : 22.000đ/ngày/1 trẻ. Nhà trường đã tuyên truyền 
và vận động phụ huynh tăng mức tiền ăn của trẻ lên 4.000đ/ngày/1 trẻ so với 
năm học trước. 
 * Khó khăn: 
 - Bếp ăn ở hai khu, nên việc quản lý chưa được sát sao triệt để. 
 - Tính sáng tạo trong chế biến món ăn và xây dựng thực đơn của nhân 
viên nuôi dưỡng chưa cao. 
 - Giá cả một số thực phẩm chính có trong thực đơn cho trẻ của nhà trường 
cao như: Thịt gà ta, Thịt bò, Thịt chim bồ câu, thịt đà điểu, Tôm biển ... 
 - Nhân viên nuôi dưỡng chế độ tiền lương hàng tháng còn thấp. 
 - Trang thiết bị bán trú hiện đại còn thiếu như: máy làm bánh, máy nướng 
bánh, bếp từ... 
 1.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài. 
 Sau khi quan sát trực tiếp thực tế giờ ăn của từng lớp, khám sức khỏe, cân 
đo đầu Năm học: 2024 - 2025 của trẻ tôi tổng hợp thể hiện số liệu như sau: 
 Trẻ SDD thể nhẹ Trẻ SDD thể 
 Trẻ béo phì 
 Tổng cân thấp còi 
Thời gian 
 số trẻ Số Số Tỉ lệ Số 
 Tỉ lệ % Tỉ lệ % 
 lượng lượng % lượng 
 Đầu năm 420 28 6,7 31 7,3 8 1,9 
 1.3. Nhược điểm của cách làm cũ 
 Chế độ ăn chưa được tối ưu hóa theo nhu cầu dinh dưỡng từng nhóm trẻ. 
 Chỉ tập trung vào một khía cạnh (ví dụ: tăng khẩu phần nhưng chưa chú ý 
đủ đến chất lượng dinh dưỡng) nên chưa giải quyết triệt để các vấn đề dinh 
dưỡng khác nhau. 
 Bữa ăn chưa đảm bảo đủ các nhóm dinh dưỡng cần thiết như chất đạm, 
chất béo, tinh bột, vitamin và khoáng chất. 4 
 Thực đơn lặp đi lặp lại khiến trẻ chán ăn, ăn không đủ lượng cần thiết, 
dẫn đến suy dinh dưỡng. 
 Lượng thức ăn không phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. 
 Thiếu sự giáo dục về ăn uống có thể khiến trẻ có thói quen ăn không đúng 
giờ, kén ăn. 
 Bữa ăn không hấp dẫn hoặc không phù hợp với khẩu vị của trẻ, trẻ ăn ít 
hơn và không hấp thu đủ dinh dưỡng cần thiết. 
 Đặc biệt ở nông thôn như trường mầm non chúng tôi cũng đã có trẻ thừa 
cân béo phì. Vì vậy việc cân đối tỷ lệ các chất lại càng cần thiết. 
 Qua bảng tổng hợp trên bản thân thấy số liệu trẻ chưa ăn hết xuất ăn có số 
lượng cao, tôi tự hỏi tại sao trẻ lại không ăn hết xuất? Phải chăng là trẻ chưa 
quen với thực đơn và cách chế biến tại nhà trường hay món ăn chưa hấp dẫn trẻ? 
trước thực trạng này nếu cứ để trẻ như vậy, thì không đạt yêu cầu cân bằng đều 
các chất dinh dưỡng tối thiểu trên ngày cho trẻ đủ sức khỏe học tập và vui chơi, 
nếu để tình trạng nay kéo dài thì tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng sẽ có nguy cơ tăng cao. 
Vì vậy tôi tìm hiểu và đưa ra suy nghĩ tìm ra một số biện pháp để nâng cao chất 
lượng trong các bữa ăn như sau: 
 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 
 * Cơ sở lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài. 
 Trẻ mầm non là đối tượng đang ở trong giai đoạn phát triển và lớn nhanh 
về mọi mặt, nhu cầu về dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động của trẻ là rất cao. 
Chất dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển 
của cơ thể. Chất dinh dưỡng bao gồm các chất sinh năng lượng và chất không 
sinh năng lượng. Các chất sinh năng lượng gồm chất đạm, chất béo và chất bột 
đường. Các chất không sinh năng lượng bao gồm các vitamin, các khoáng chất 
và nước. Bởi vậy trong thành phần bữa ăn của trẻ phải có đủ các chất và cân đối 
hợp lý 4 nhóm thực phẩm. Nếu trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt ngay từ nhỏ 
thì trẻ luôn được khỏe mạnh, thông minh, ít ốm đau. 
 Nhà trường là nơi chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục toàn diện cho trẻ. Trẻ 
được ăn, ngủ, hoạt động tại trường nên việc đảm bảo dinh dưỡng hợp lý an toàn 
cho trẻ đủ năng lượng để hoạt động là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, là trách 
nhiệm đối với ban giám hiệu, giáo viên nhân viên nhà trường. Ngay từ đầu năm 
học để làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nhà trường đã căn cứ vào các 
văn bản hướng dẫn như: 
 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ về sửa 
đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh quy 
 5 
định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh 
doanh thực phẩm. 
 Quyết định số: 1246/QĐ-BYT ngày 31/03/2017 của Bộ Y Tế, quyết định 
về việc ban hành “Hướng dẫn thực hiện chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu 
thức ăn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 
 Thông tư số 51/2020/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ 
sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo 
Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ 
Giáo dục và Đào tạo, đã được sửa đổi, bổ sung bởi thông tư số: 28/2016/TT-
BGDĐT ngày 30/12/2016 của Bộ giáo dục và đào tạo. 
 Nghị định số 124/2021/NĐ-CP: Sửa đổi bổ sung một số điều của nghị 
định 115/2018/NĐ-CP và nghị định 117/2020/NĐ-CP 
 Hướng dẫn số: 1442/PGDĐT - MN hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên 
môn Giáo dục mầm non năm học 2024-2025. 
 Kế hoạch số: 242/KH-MNBTB ngày 12/09/2024 kế hoạch thực hiện 
nhiệm vụ năm học 2024 - 2025 của trường mầm non Ba Trại B. 
 Qua bảng tổng hợp trên tôi thấy trẻ suy dinh dưỡng và thấp còi có số lượng 
cao. Mặc dù nhà trường ở nông thôn nhưng đã có 8 trẻ bị béo phì. Tôi tự hỏi 
phải chăng là trẻ chưa quen với thực đơn và cách chế biến tại nhà trường hay 
món ăn chưa hấp dẫn trẻ? Tỉ lệ chất dinh dưỡng đã cân đối chưa?....Trước thực 
trạng này nếu cứ để trẻ như vậy, thì không đạt yêu cầu cân bằng đều các chất 
dinh dưỡng tối thiểu trong ngày để trẻ đủ sức khỏe học tập và vui chơi, nếu tình 
trạng này kéo dài thì tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng sẽ có nguy cơ tăng cao. Vì vậy tôi 
suy nghĩ tìm ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ như sau: 
 2.1. Biện pháp 1: Tổ chức cho tổ nuôi dưỡng tham gia các lớp tập huấn 
kiến thức về dinh dưỡng, kỹ thuật chế biến món ăn và an toàn thực phẩm. 
 Để chuẩn bị tốt cho công tác triển khai nhiệm vụ năm học nhất là nhiệm 
vụ về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Phòng giáo dục và đào tạo Ba Vì đã tổ 
chức lớp tập huấn “Bồi dưỡng nghiệp vụ nấu ăn chuyên nghiệp trong trường 
mầm non”. Qua những buổi tập huấn tôi cùng các đồng chí trong tổ nuôi dưỡng 
học được rất nhiều kiến thức như: Cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon; Cách 
xây dựng thực đơn phải kết hợp chất đạm và chất béo từ thực phẩm động vật và 
thực phẩm thực vật tận dụng nguồn thực phẩm sẵn có của địa phương; Cách khử 
mùi hôi, tanh từ nguyên liệu tự nhiên. Bản thân tôi cùng các đồng chí trong tổ 
nuôi dưỡng đã tham gia tích cực vì mỗi đồng chí đều nhận thấy đây là những 
kiến thức rất bổ ích cho công việc của mình. 
 6 
 Sau khi được điều động về trường MN Ba Trại B tôi cùng với các đồng 
chí trong tổ nuôi dưỡng tiếp tục được đồng chí Hiệu trưởng nhà trường tạo điều 
kiện và mời giảng viên: Thạc sỹ Phùng Thị Vân- trưởng khoa ATTP- trung tâm 
y tế huyện Ba Vì về trường bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, và 
khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần/1 năm. 
 Với mong muốn nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ của tập thể nhà 
trường tôi đã tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng cùng phối kết hợp với các 
trường mầm non trong tiểu khu I mời giảng viên trường Cao đẳng kỹ thuật và 
công nghệ Hà Nội Thạc sĩ: Trần Thị Yến và Thạc sĩ: Lê Ngọc Tú về tập huấn 
chuyên đề cho toàn thể Cán bộ quản lý và tổ nuôi dưỡng với nội dung chuyên 
đề: Đổi mới xây dựng thực đơn và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ tại 
cơ sở giáo dục mầm non. Qua buổi tập huấn chuyên đề tôi đã học hỏi được rất 
nhiều kiến thức bổ ích về dinh dưỡng như: Đổi mới xây dựng thực đơn; Những 
thực thực phẩm không nên kết hợp để chế biến món ăn; Những thực phẩm có 
thể thay thế cho nhau trong khi chế biến; Kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ như 
món Bánh bí đỏ nhân thịt, bánh giò, sữa bí đỏ, sữa lạc 
 Ngoài ra tôi cùng các đồng chí trong tổ nuôi dưỡng còn tự thu nhập thêm 
các kiến thức từ sách báo, tài, liệu, qua mạng internet, qua trao đổi với đồng 
nghiệp thông qua các buổi họp tổ nuôi dưỡng. Từ những kiến thức về cách chế 
biến các món ăn cho trẻ, tìm tòi nghiên cứu và thử nghiệm một số món ăn trước 
khi tham mưu cho kế toán bổ sung vào thực đơn. 
 Với phương châm “Hãy dành những gì tốt đẹpnhất cho trẻ”. Được sự định 
hướng của đồng chí Hiệu trưởng nhà trường từ những kiến thức đã học tập qua 
các lớp bồi dưỡng, tôi đã phối hợp với tổ nuôi dưỡng tổ chức chuyên đề “Nâng 
cao kỹ thuật chế biến món ăn: Bánh bí đỏ nhân thịt và Xôi hạt sen lá dứa” cấp 
trường. Buổi chuyên đề được tổ chức thành công với hai món ăn được chế biến 
ngon mắt, ngon miệng. Đây cũng là một hình thức tuyên truyền với các bậc phụ 
huynh về tầm quan trọng của công tác chăm sóc nuôi dưỡng tại trường mầm 
non. Là hình thức quảng bá về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường 
từ đó thu hút được sự tin tưởng từ phụ huynh. 
 (Ảnh 1: Tổ nuôi dưỡng tham gia tập huấn các lớp bồi dưỡng) 
 (Ảnh 2: Tổ chức chuyên đề “Nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn) 
 Kết quả: Sau khi được tham gia các lớp tập huấn các đồng chí trong tổ 
nuôi dưỡng hiểu rõ hơn về chế độ dinh dưỡng hợp lý, cách lựa chọn thực phẩm 
an toàn và áp dụng kỹ thuật chế biến phù hợp để đảm bảo giá trị dinh dưỡng 
trong từng bữa ăn. 
 7 
 Nhân viên có nhận thức tốt hơn về các tiêu chuẩn vệ sinh, quy trình bảo 
quản thực phẩm và phòng tránh nguy cơ ngộ độc thực phẩm góp phần đảm bảo 
an toàn sức khỏe cho trẻ. 
 Các món ăn được chế biến đa dạng, phong phú, đảm bảo cân đối giữa các 
nhóm chất dinh dưỡng, giúp nâng cao sức khỏe và thể chất cho người sử dụng. 
 Chất lượng bữa ăn được nâng cao giúp tăng sự hài lòng của phụ huynh, 
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng tại nhà trường. 
 2.2. Biện pháp 2: Đảm bảo lựa chọn nguồn thực phẩm chất lượng 
cung cấp vào trường và làm tốt khâu giao nhận thực phẩm. 
 Hàng năm, trước thềm năm học mới nhà trường họp ban trung tâm, ban 
đại diện hội cha mẹ để lựa chọn và ký hợp đồng với những nhà cung cấp thực 
phẩm đảm bảo, uy tín có đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc các loại thực phẩm và được 
Trung tâm y tế huyện Ba Vì xác nhận là đảm bảo đủ điều kiện cung cấp thực 
phẩm cho nhà trường. 
 Ngoài ra ngay từ đầu năm học nhà trường đã xây dựng kế hoạch và tổ 
chức đi truy xuất nguồn gốc thực phẩm tại các cơ sở cung cấp nhằm kiểm soát 
chất lượng và phòng tránh rủi ro liên quan đến thực phẩm cung cấp cho trẻ tại 
trường mầm non. 
 Đảm bảo nguồn thực phẩm sạch luôn được ưu tiên hàng đầu. Việc kết hợp 
nhiều loại thực phẩm không nhằm mục đích giúp trẻ tăng trưởng nhanh, mà là 
để cân đối tỷ lệ dinh dưỡng, hỗ trợ sự phát triển toàn diện và hài hòa. 
 Việc thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm sẽ đảm bảo thực phẩm đưa 
vào bếp ăn an toàn, đủ số lượng và đạt chất lượng. Chính vì vậy, tôi luôn chú 
trọng và chỉ đạo thực hiện tốt khâu này theo đúng quy định, với đầy đủ thành 
phần tham gia đó là: Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên y tế, nhân viên kế 
toán, nhân viên trực tiếp nấu và phụ hunh đảm bảo tính công khai, minh bạch. 
Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo sự đoàn kết, tin 
tưởng lẫn nhau trong tập thể nhà trường. 
 Trực tiếp tham gia và chỉ đạo kế toán, cô nuôi, giáo viên, nhân viên y tế 
trong việc giao nhận thực phẩm theo đúng quy định. Kiểm tra kỹ chất lượng và 
số lượng thực phẩm bằng cách quan sát bề mặt bên ngoài của thực phẩm để 
đánh giá tình trạng tươi mới hay có dấu hiệu dập nát, hư hỏng. Nếu thực phẩm 
không đảm bảo chất lượng, tuyệt đối không nhập vào bếp. 
 Nhắc nhở tổ nuôi dưỡng và giáo viên khi nhận thực phẩm cần kiểm tra kỹ 
bề ngoài bằng cảm quan và kinh nghiệm. 
 Khi giao nhận thực phẩm có sổ sách, có giấy biên nhận, hàng ngày nhận 
đủ cân. 
 8 
 Thực phẩm Khi nhận vào bếp để chế biến phải đảm bảo tươi ngon, đảm 
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn phải được chế biến nấu chín kỹ, nấu 
xong cho trẻ ăn ngay. Thực hiện nghiêm túc việc lưu mẫu thức ăn theo Quyết 
định 1246/QĐ-BYT ngày 31/3/2017, đủ lượng cần thiết đối với thức ăn lỏng tối 
thiểu 150ml Thức ăn rắn 100g mẫu thức ăn phải được lấy vừa nấu xong trước 
khi cho trẻ ăn, hộp đựng mẫu thức ăn bằng thủy tinh, inox sạch sẽ, có nhãn 
mác, có nắp đạy, có chữ ký người lưu, có đóng dấu nhà trường lưu mẫu thức ăn 
24/24 giờ trong ngăn mát tủ lạnh với nhiệt độ 2 đến 8 độ. 
 (Ảnh 3: Ảnh thực hiện giao nhận thực phẩm vào buổi sáng- minh họa 
cho biện pháp 2) 
 Kết quả: Nhà trường chỉ đạo làm tốt khâu giao nhận thực phẩm, đảm bảo 
lựa chọn nguồn thực phẩm chất lượng cung cấp vào trường đạt được kết quả sau: 
 Kiểm soát chặt chẽ từ khâu lựa chọn đến giao nhận giúp loại bỏ thực 
phẩm kém chất lượng. 
 Thực phẩm đưa vào trường luôn tươi ngon, có nguồn gốc rõ ràng giúp 
nâng cao giá trị dinh dưỡng của bữa ăn. 
 Quy trình giao nhận minh bạch giúp kiểm soát chặt chẽ nguồn thực phẩm, 
tránh thất thoát và sai sót. 
 Chế độ ăn đảm bảo chất lượng giúp học sinh có đủ dinh dưỡng để học tập 
và phát triển toàn diện. 
 Từ đó nhà trường đã tạo được lòng tin từ phụ huynh và chất lượng bữa ăn 
của trẻ ngày càng được nâng cao. 
 2.3. Biện pháp 3: Xây dựng thực đơn kết hợp nguyên liệu thực phẩm 
phong phú và thay đổi theo ngày, tuần và theo mùa. 
 Trẻ mầm non thường tiêu thụ nhiều calo vì trẻ sẽ tham gia nhiều hoạt 
động vui chơi và học tập. Vì vậy trẻ cần dinh dưỡng để phát triển cả về thể lực 
và trí lực. Việc xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non đóng vai trò quan trọng cho 
sự phát triển và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Đó là vấn đề không chỉ các 
bậc phụ huynh mà các cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên trường mầm non 
Ba Trại B đặc biệt quan tâm. 
 Trước đây, khi tôi chưa áp dụng biện pháp “xây dựng thực đơn với 
nguyên liệu đa dạng, thay đổi theo ngày, tuần và mùa”, thực đơn của nhà trường 
còn lặp lại nhiều, chưa có sự kết hợp phong phú giữa các loại thực phẩm. Chúng 
tôi cũng chưa mạnh dạn đưa những nguyên liệu mới vào bữa ăn mà chủ yếu dựa 
trên thực đơn của các năm học trước. Điều này khiến trẻ chưa được tiếp cận đủ 
các nhóm thực phẩm cần thiết, dẫn đến tình trạng dư thừa một số chất nhưng lại 
thiếu hụt những chất dinh dưỡng quan trọng khác, ảnh hưởng đến sự phát triển 
 9 
toàn diện của trẻ. Vì vậy, tôi đã chỉ đạo và thực hiện biện pháp “xây dựng thực 
đơn với nguyên liệu phong phú, thay đổi linh hoạt theo ngày, tuần và mùa” để 
cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho trẻ. 
 Ngay từ đầu năm học tổ nhân viên nuôi dưỡng đã họp tổ để đưa ra những 
ý kiến đóng góp rồi cùng đi đến thống nhất lựa chọn những nguyên liệu thực 
phẩm để xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non dựa trên những nguyên tắc: 
 - Mỗi khẩu phần ăn cần đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và bổ 
sung năng lượng cho trẻ thoải mái học tập và vui chơi. 
 - Thực đơn của trẻ mầm non phải cân đối tỷ lệ các chất: Tinh bột; đạm, 
vitamin và chất khoáng, chất béo trong khẩu phần ăn của trẻ. 
 - Cân bằng thực phẩm và lượng calo để tránh tình trạng thừa cân hoặc suy 
dinh dưỡng ở trẻ. 
 - Thực đơn cần có sự thay đổi theo ngày, theo tuần chẵn, tuần lẻ, theo 
mùa để trẻ được làm quen với nhiều món ăn, nhiều loại thực phẩm giúp trẻ ăn 
ngon miệng. 
 Tất cả các loại thực phẩm đều có chứa chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ 
thể trẻ. Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất nhất định. Vậy cách tốt nhất 
để đảm bảo chất dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của trẻ là kết hợp nhiều loại thực 
phẩm trong món ăn. Có như vậy thì bữa ăn của trẻ mới đa dạng, phong phú về 
nguyên liệu thực phẩm. Nhưng phải kết hợp thực phẩm như thế nào cho đúng, 
cho an toàn mà không làm mất đi giá trị dinh dưỡng của từng loại thực phẩm đó 
mà làm cho món ăn đó ngon hơn, bắt mắt hơn nhờ vào màu sắc của thực phẩm. 
Kích thích vị giác của trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng. 
 VD: Món: Thịt gà, Thịt lợn om nấm; Su su cà rốt xào thịt lợn; Canh bí đỏ 
đậu xanh nấu thịt; Xôi hạt sen lá dứa... tất cả những món ăn này đều được kết 
hợp nhiều loại thực phẩm giúp cho món ăn ngon mắt, ngon miệng. 
 Ngoài ra khi thay đổi thực đơn theo mùa để đảm bảo trẻ được ăn mùa nào 
rau đó, củ quả đó không nên cho những loại thực phẩm trái mùa vụ làm tăng giá 
thành mà không đảo bảo chất lượng. 
 Khi xây dựng thực đơn phải chú ý đến các món ăn trẻ yêu thích, phù hợp 
với trẻ. Trước khi xây dựng thực đơn chúng tôi đã tìm hiểu những món ăn mà 
trẻ yêu thích, và những món trẻ không thích từ đó đưa ra thực đơn, cách chế biến 
món ăn hợp lý và đảm bảo cân đối tỉ lệ các chất: P-L-G theo tỉ lệ thích hợp là: 
14-16; 24-26; 60-62 ngoài ra còn cần cung cấp vitamin và chất khoáng giúp trẻ 
phát triên cân đối, hài hòa. 
 (Ảnh 4: Ảnh thực đơn tuần chẵn, tuần lẻ có kết hợp nhiều loại thực 
phẩm)- Minh họa biện pháp 3 
 10 
 (Ảnh 5: Ảnh một số món ăn được kết hợp nhiều loại thực phẩm)- 
Minh họa biện pháp 3 
 Kết quả: Việc thay đổi thực đơn theo ngày, tuần và mùa giúp cân bằng 
dinh dưỡng, cung cấp đầy đủ vitamin, khoáng chất và năng lượng cần thiết cho 
cơ thể. 
 Sự đa dạng trong món ăn giúp trẻ không có cảm giác nhàm chán, kích 
thích vị giác và tạo cho trẻ hứng thú trong ăn uống. 
 Việc luân phiên sử dụng nhiều loại thực phẩm khác nhau giúp bổ sung 
đầy đủ dưỡng chất, tránh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng do ăn uống đơn điệu. 
 Sử dụng nguyên liệu theo mùa giúp thực phẩm tươi ngon, hạn chế tồn dư 
hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo sức khỏe cho trẻ. 
 Nguyên liệu theo mùa thường có giá thành hợp lý hơn, giúp tiết kiệm chi 
phí mua sắm thực phẩm. 
 Việc xây dựng thực đơn hợp lý giúp hình thành thói quen ăn uống khoa 
học, lành mạnh, góp phần nâng cao sức khỏe cho trẻ để trẻ phát triển toàn diện 
hơn. 
 2.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ ở 
trường mầm non. 
 Nói đến chất lượng bữa ăn cho trẻ người ta nghĩ ngay đến chất lượng thực 
phẩm; chất lượng của các món ăn hay thực đơn đảm bảo cân đối tỉ lệ chất dinh 
dưỡng. Nhưng không phải vậy, chất lượng bữa ăn còn phải có không gian để tổ 
chức ăn, hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ để tạo tâm lý thoái mái, vui tươi cho 
trẻ khi ăn. 
 Bữa cơm không chỉ đơn giản là cung cấp năng lượng- một nhu cầu thiết 
yếu của con người mà còn thể hiện văn hóa, thể hiện tình cảm yêu thương và sự 
gắn kết giữa các thành viên. 
 Việc đổi mới các hình thức hoạt động ở trường mầm non trong đó việc 
đổi mới tổ chức bữa ăn cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn và hình thành 
ở trẻ những kỹ năng cơ bản trong ăn uống giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, trẻ có ý 
thức hơn về văn hoá ẩm thực và lịch sự trong ăn uống như: khi ăn không nói 
chuyện riêng, biết tự lấy thức ăn vừa đủ, lựa chọn những thức ăn mà trẻ thích... “ 
“Bữa cơm gia đình ”, là một hình thức phù hợp. Tại “bữa cơm gia đình” trẻ 
được trải nghiệm cách tự lấy cơm, tự lấy thức ăn, được sử dụng đũa để gắp thức 
ăn và cùng mời các bạn ăn cơm. Trẻ được trải nghiệm văn hóa ăn uống, văn hóa 
ứng xử trong bữa ăn, không khí ấm áp thân thương của gia đình. Và tôi đã chỉ 
đạo nhân viên nuôi dưỡng, giáo viên chuẩn bị và tổ chức theo hình thức “Bữa 
cơm gia đình để trẻ được thay đổi hình thức, tạo cảm giác thích thú ở trẻ. 
 11 
 Đặc biệt dịp Tết Nguyên đán tôi lên kế hoạch và tham mưu với BGH phối 
hợp với giáo viên, nhân viên và phụ huynh tổ chức cho trẻ ăn tết dưới hình thức 
Tiệc Buffet rất vui vẻ và ý nghĩa. Việc tổ chức cho trẻ ăn Buffet trước hết giúp 
trẻ được thưởng thức các món ăn vừa lạ vừa quen, trẻ biết ăn nhiều loại thức ăn, 
giúp trẻ hiểu thêm những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Hơn 
nữa, tổ chức cho trẻ ăn Buffet còn giúp trẻ giao lưu, trao đổi trò chuyện với nhau 
về các món ăn, cách ăn, cách sử dụng đồ. Rèn cho trẻ kỹ năng không lấy nhiều 
một loại thức ăn, ăn hết phần thức ăn mình đã lấy, không để thức ăn thừa. 
 Qua đó dạy trẻ thói quen tự phục vụ, tự lựa chọn giúp trẻ thêm mạnh dạn, 
tự tin giao tiếp, ứng xử tạo tiền đề cho sự phát triển của trẻ một cách toàn diện. 
 ( Ảnh 6: Ảnh trẻ được tham gia tiệc buffet tại nhà trường)- Minh chứng 
cho biện pháp 4 
 Kết quả: Việc thay đổi cách bài trí món ăn đẹp mắt, tổ chức các bữa ăn 
theo chủ đề (bữa ăn tự chọn, bữa ăn gia đình, tiệc buffet...) giúp trẻ hào hứng 
hơn khi ăn, từ đó ăn ngon miệng và đủ chất hơn. 
 Trẻ được rèn luyện kỹ năng tự lấy thức ăn, sử dụng dụng cụ ăn uống đúng 
cách, giữ gìn vệ sinh trong khi ăn, từ đó hình thành thói quen tốt và tăng tính tự lập. 
 Phụ huynh có cơ hội tham gia vào quá trình tổ chức bữa ăn cho trẻ, cùng 
nhà trường xây dựng thực đơn và giáo dục trẻ về dinh dưỡng, tạo sự thống nhất 
giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc trẻ. 
 Việc tổ chức bữa ăn khoa học, hấp dẫn giúp trẻ phát triển thể chất tốt hơn, 
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục tại trường mầm non. 
 2.5. Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý công 
tác chăm sóc nuôi dưỡng một cách có hiệu quả. 
 Có thể nói CNTT đã tác động tích cực đến hầu hết các ngành nghề trong 
xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục, tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT cả 
trong dạy, học và quản lý đều đã được chứng minh như là trong quản lý nhân sự 
thông tin được cập nhật chính xác và nhanh chóng. Trong chuyên môn thực hiện 
hồ sơ sổ sách và báo cáo thống kê nhẹ nhàng, khoa học. Tuy nhiên trong công 
tác quản lý nuôi dưỡng thì việc ứng dụng CNTT lại chưa được chú trọng mặc dù 
công tác nuôi dưỡng là nhiệm vụ trọng tâm trong các hoạt động ở trường mầm 
non. Trong 2 năm tôi được phân công phụ trách công tác chăm sóc nuôi dưỡng 
tôi nhận thấy trong công tác quản lý nuôi dưỡng có rất nhiều việc tỉ mỉ, vụn vặt, 
tốn nhiều thời gian để kiểm tra số liệu chính xác. Nếu không biết ứng dụng 
CNTT vào quản lý công tác nuôi dưỡng thì khó có thể hoàn thành tốt công việc 
quản lý của mình. Trước đây để lấy số liệu trẻ đi học và báo ăn hàng ngày làm 
mất khá nhiều thời gian mà nhiều khi số liệu còn không chính xác nên ảnh 
 12 
hưởng đến việc gọi thực phẩm nấu ăn cho trẻ, hay việc tính khẩu phần ăn cho trẻ 
được tính trên công thức Excel nên rất khó để kiểm tra, xác định xem thực đơn 
đã đảm bảo định lượng calo và cân đối tỉ lệ các chất hay chưa. Nên rất khó cho 
công tác quản lý. 
 Nhưng giờ đây với thời đại CNTT phát triển bùng nổ những công việc mà 
trước đây gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và hay nhầm lẫn thì bây giờ lại trở 
nên quá dễ dàng chỉ qua phần mềm GoKid. Phần mềm có rất nhiều tính năng 
như: Xây dựng thực đơn, điểm danh trẻ đi học và báo ăn, Tính khẩu phần ăn cân 
đối tỉ lệ các chất dinh dưỡng, xuất kho, nhập kho, tổng hợp báo cáo số liệu hàng 
ngày. Thực hiện tốt các tính năng trên phần mềm Gokid sẽ cho chúng ta số liệu 
chính xác và nhanh chóng, từ đó giúp cho công tác nuôi dưỡng có thêm thời 
gian thực hiện chế biến món ăn thật ngon cho trẻ. 
 Với ưu điểm của ứng dụng CNTT như vậy tôi chỉ đạo các bộ phận liên 
quan trực tiếp đến công tác nuôi dưỡng thực hiện ứng dụng CNTT trong công 
tác chăm sóc nuôi dưỡng như: 
 + Giáo viên thực hiện điểm danh học sinh trên phần mềm Gokid. 
 + Nhân viên xuất, nhập kho thực hiện trên phần mềm Gokid 
 + Nhân viên nuôi dưỡng lựa chọn thực phẩm theo thực đơn đã được áp 
lên phần mềm Gokid 
 + Kế toán tính toán khẩu phần ăn cân đối tỉ lệ chất trên phần mềm và tính 
toán tiền cần thanh toán trên phần mềm Gokid. 
 Cuối tháng tổng hợp số lượng trẻ ăn trong tháng, quyết toán ngân sách 
tiền ăn để ra hóa đơn thanh toán cho các nhà cung cấp thực phẩm trên phần mềm 
Gokid . 
 Khi tôi muốn kiểm tra số liệu gì như là số trẻ ăn, số lượng ga tiêu thu 
trong tháng, số lượng gạo xuất trong ngày thì tôi chỉ cần mở phần mềm ra là 
kiểm tra được số liệu rồi đối chiếu thực tế mà không cần phải hỏi ai khác. 
 Ngoài ra trong công tác nuôi dưỡng cần công khai các nhà cung cấp thực 
phẩm, Công khai số điện thoại của các nhà cung cấp thực phẩm, công khai thực 
đơn, công khai tài chính .thì chúng ta thực hiện tạo mã QR rồi dán vào bảng 
tin của nhà trường để các đoàn kiểm tra, bậc phụ huynh chỉ bằng một chiếc điện 
thoại quét mã QR là có thể kiểm tra những thông tin mà nhà trường đưa lên. 
 Nhờ có CNTT mà nhà trường có thể quảng bá và tuyên truyền những 
những món ăn mới lạ, những thực đơn hay, những chương trình sự kiện đặc sắc 
của nhà trường với các phụ huynh, với bạn bè đồng nghiệp, với các trường bạn 
cũng như báo cáo cấp trên qua cổng thông tin điện tử của nhà trường, qua trang 
 13 
Web, qua fanpage nhà trường hay qua nhóm zalo, facebook giúp cho thông tin 
đi xa hơn và nhanh hơn rất nhiều. 
 ( Ảnh 7: Ảnh tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokid)- Minh chứng 
cho biện pháp 5 
 Kết quả: Chính vì vậy việc ứng dụng CNTT vào quản lý công tác nuôi 
dưỡng đã giúp tôi làm tốt công việc quản lý của mình cũng như góp phần nâng 
cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. 
 3. Kết quả thực hiện: 
 - Sau khi áp dụng các biện pháp trên nhà trường thu được nhiều kết quả 
đáng khích lệ. Chúng tôi đã làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, có thêm 
kinh nghiệm trong việc xây dựng thực đơn, đội ngũ nhân viên nâng cao được kỹ 
thuất chế biến món ăn giúp cho chất lượng bữa ăn của trẻ ngày càng được nâng 
cao hơn. 
 Phụ huynh tin tưởng nhà trường, trẻ đi học đạt tỉ lệ chuyên cần cao 
 Trẻ tham gia hoạt động giờ ăn vui vẻ, ăn đa dạng các loại thức ăn, ăn hết 
xuất, hạn chế lượng thải bỏ thức ăn thừa gây lãng phí vì vậy trẻ phát triển một 
cách toàn diện. Qua hoạt động cân đo và theo dõi biểu đồ tăng trưởng tỷ lệ trẻ 
thừa cân béo phì được giảm và khống chế, trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và 
thể thấp còi giảm so với đầu năm có số liệu cụ thể như sau: 
 Trẻ SDD thể nhẹ Trẻ SDD thể 
 Trẻ béo phì 
 Tổng số cân thấp còi 
Thời gian 
 trẻ Số Số Tỉ lệ Số 
 Tỉ lệ % Tỉ lệ % 
 lượng lượng % lượng 
Đầu năm 420 28 6,7 31 7,3 8 1,9 
Cuối năm 420 9 2,1 12 2,8 5 1,2 
 Giảm: Giảm: Giảm: Giảm: Giảm: Giảm: 
 So sánh 
 19 trẻ 4,6 % 21 trẻ 4,5 % 3 trẻ 0,7% 
 Qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể 
thấp còi giảm xuống đáng kể, trẻ thừa cân béo phì giảm một chút và cơ bản 
được khống chế không tăng thêm. 
 Đặc biệt thành công lớn nhất là trong năm học qua học sinh của nhà 
trường được đảm bảo an toàn, không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra 
tại trường. Cuối năm tỷ lệ học sinh suy dinh dưỡng giảm, tỷ lệ học sinh béo phì 
được khống chế không gia tăng. Các cháu ăn ngon miệng không kén thức ăn. 
 14 
 4. Hiệu quả của sáng kiến: 
 4.1.Hiệu quả về khoa học 
 Qua quá trình thực hiện đề tài tôi đưa ra nhiều biện pháp sáng tạo phù hợp 
với tình hình thực tế, thông qua các biện pháp này tôi đã đạt được mục đích đề 
ra đó là khắc phục được những tồn tại, hạn chế trong công tác chăm sóc và nuôi 
dưỡng trẻ. Bản thân có nhiều đổi mới, sang tạo trong công tác quản lý. Trẻ luôn 
hứng thú với những bữa ăn, ăn được đa dạng thực phẩm và ăn rất ngon miệng. 
 4.2. Hiệu quả về kinh tế 
 Khi thực hiện sáng kiến, áp dụng các giải pháp không tốn kém về kinh tế 
nhân lực chủ yếu là nhân viên nuôi dưỡng và giáo viên trong nhà trường. Bữa ăn 
được đảm bảo chất lượng giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất không có đồ tránh 
lãng phí thức ăn. 
 4.3.Hiệu quả về xã hội 
 Sau khi thực hiện một số biện pháp đó nhà trường đã gặt hái được rất 
nhiều thành công nhất định và có sức lan tỏa đến các bậc phụ huynh trong nhà 
trường, được phụ huynh tin tưởng, tỉ lệ chuyên cần của trẻ ngày càng cao. 
 5. Tính khả thi 
 Sau khi áp dụng sáng kiến của tôi nhà trường đã gặt hái được những thành 
công nhất định giúp cho chất lượng bữa ăn ngày càng được nâng lên. Vì vậy 
sáng kiến mang tính khả thi cao và được áp dụng có hiệu quả vào những năm 
học tiếp theo. 
 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. 
 - Đề tài được thực hiện từ tháng 11 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025 và áp 
dụng thực hiện cho những năm tiếp theo. 
 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. 
 Khi thực hiện đề tài sáng kiến: 0 đồng 
 III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 
 1. Kết luận: 
 Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em cần dinh 
dưỡng để phát triển thể lực và trí lực, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự 
sống và làm việc, hay nói cách khác, dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát 
triển của cơ thể. Ở trẻ mầm non cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh 
dưỡng rất lớn. Nếu thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các 
bệnh về dinh dưỡng. Vì vậy ăn uống là cơ sở của sức khoẻ. Ăn uống theo đúng 
yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực và trí tuệ phát triển tốt, trẻ em khoẻ mạnh, học 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_va_quan_ly_na.pdf